ĐẶT VẤN ĐỀ Trầm cảm hiện nay có khuynh hướng ngày một gia tăng và chiếm một tỷ lệ khá cao trong các bệnh lý tâm thần tại cộng đồng. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tới năm 2020, trầm cảm là bệnh thường gặp đứng thứ hai sau bệnh lý tim mạch và sẽ trở thành gánh nặng bệnh tật, là nguyên nhân làm mất sức lao động, thiệt hại về kinh tế và thậm chí gây tử vong [51]. Trên lâm sàng, trầm cảm biểu hiện rất đa dạng và phong phú bằng nhiều triệu chứng kết hợp, trầm cảm thường gặp trong rối loạn cảm xúc và trong các rối loạn tâm thần khác. Trầm cảm trong rối loạn cảm xúc lưỡng cực chiếm một tỷ lệ rất đáng kể [92].
Rối loạn lưỡng cực là một rối loạn khí sắc mạn tính, đặc trưng bởi các giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ xen kẽ hoặc đi kèm với các giai đoạn trầm cảm. Năm 1996, Weissman và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang ở cộng đồng (38000 người) cho thấy tỷ lệ mắc trong đời của trầm cảm thay đổi theo từng nước từ 1,5% (Đài Loan) đến 19% (Beirut), còn tỷ lệ mắc trong đời của rối loạn khí sắc lưỡng cực từ 0,3% (Đài Loan) đến 1,5% (New Zealand) [93]. Năm 2005, Kessler và cộng sự thấy tỷ lệ rối loạn cảm xúc lưỡng cực tại 48 bang ở Hoa Kỳ là 1,6% dân số [67]. Theo cuộc khảo sát quốc gia về bệnh lý đi kèm của rối loạn lưỡng cực tại Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc bệnh rối loạn lưỡng cực là 4,4% (1% lưỡng cực I, 1,1% lưỡng cực II, 2,4% lưỡng cực dưới ngưỡng) [23].
Tại Việt Nam hiện chưa có điều tra thống kê chính thức tỷ lệ này trong nhân dân, tuy nhiên tại Viện Sức khỏe tâm thần Bạch Mai năm 2001, bệnh nhân rối loạn lưỡng chiếm 8,7% trên tổng số bệnh nhân điều trị nội trú [4]. Bệnh cảnh của rối loạn cảm xúc lưỡng cực rất phong phú, đa dạng. Cơn đầu tiên của rối loạn cảm xúc lưỡng cực thường là trầm cảm (khoảng 60%) 2 [82]. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực có khuynh hướng tái phát, thời kỳ thuyên giảm rất thay đổi, người bệnh gặp nhiều khó khăn trong học tập, lao động và chất lượng cuộc sống bị giảm sút sau mỗi giai đoạn tái phát, đặc biệt là sau pha trầm cảm.
Bệnh nhân trầm cảm trong rối loạn cảm xúc lưỡng cực có nguy cơ tự sát cao (khoảng 11% ở Mỹ) và thúc đẩy tình trạng lạm dụng rượu và ma túy. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân bị chẩn đoán nhầm là khá cao (hơn 60% là trầm cảm tái diễn) và thời gian trung bình từ khi khám bệnh lần đầu tiên đến khi được chẩn đoán xác định rối loạn cảm xúc lưỡng cực thường là trên 10 năm [57]. Trong thực hành, ngày nay ở nước ta rất nhiều bệnh nhân trầm cảm của rối loạn cảm xúc lưỡng cực chưa được chẩn đoán đúng, điều này dẫn đến việc điều trị không được đúng mức làm cho bệnh cảnh ngày càng nặng thêm hoặc bệnh nhân gặp nhiều biến chứng do sử dụng thuốc không đúng cách. Hiện nay ở nước ta đã có những nghiên cứu về rối loạn trầm cảm nhưng còn ít công trình nghiên cứu sâu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị cho bệnh nhân trầm cảm trong rối loạn cảm xúc lưỡng cực.
Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát đặc điểm lâm sàng và nhận xét kết quả điều trị trầm cảm trong rối loạn lƣỡng cực” nhằm các mục tiêu sau: 1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng trầm cảm trong rối loạn lưỡng cực. Nhận xét kết quả điều trị trầm cảm trong rối loạn lưỡng cực. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
KHÁI NIỆM, LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU, PHÂN LOẠI RỐI LOẠN CẢM XÚC LƢỠNG CỰC 1. Khái niệm RLCXLC là rối loạn cảm xúc được đặc trưng bằng sự lặp đi lặp lại các giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ xen kẽ với các giai đoạn trầm cảm điển hình trong quá trình phát triển của bệnh, người bệnh có thể hồi phục hoàn toàn giữa các giai đoạn bệnh [7]. Trầm cảm là một hội chứng bệnh lý của rối loạn cảm xúc được đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất quan tâm hay thích thú, giảm năng lượng dẫn đến dễ mệt mỏi và giảm hoạt động. Phổ biến là bệnh nhân mệt mỏi rõ rệt chỉ sau một sự cố gắng nhỏ và biểu hiện này tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài ít nhất 2 tuần.
Những biểu hiện này được coi là những triệu chứng đặc trưng có ý nghĩa lâm sàng đặc biệt, và thường gặp ở bất kỳ mức độ nào của một giai đoạn trầm cảm. Những triệu chứng phổ biến khác là: Giảm sút sự tập trung và sự chú ý, giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin, ý tưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan, ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng. Ngoài ra còn có các triệu chứng cơ thể [14]. 4 Giai đoạn hưng cảm Hưng cảm nhẹ Giai Khí sắc bình thường đoạn hỗn hợp Giai đoạn trầm cảm Hình 1.
Các giai đoạn rối loạn khí sắc trong RLLC 1. Lịch sử bệnh và phân loại rối loạn cảm xúc lƣỡng cực 1. Lịch sử bệnh Bệnh loạn thần hưng trầm cảm được thừa nhận từ thời Hyppocrates, những bệnh nhân được mô tả là “hưng cảm” và “sầu muộn”. Năm 1899, Emil Kraepelin đã định nghĩa rối loạn hưng - trầm cảm và nhận thấy ở những bệnh nhân này có khuynh hướng tái phát, tiên lượng tốt và không có chứng mất trí như ở bệnh tâm thần phân liệt [89].
Đến năm 1962, Leonhard và cộng sự đề xuất phân loại rối loạn khí sắc thành 2 thể: Rối loạn cảm xúc đơn cực (monopolar) và rối loạn cảm xúc lưỡng cực (bipolar) [63]. Các nghiên cứu độc lập của Angst, Perris, Winokur (1966) đã phân biệt 2 thể đơn cực và lưỡng cực có sự khác biệt về: Yếu tố nguy cơ, bệnh căn, các đặc trưng sinh lý bệnh, các đặc trưng về lâm sàng, sự khác biệt về điều trị và phòng tái phát [35]. Hiện nay có hai hệ thống chẩn đoán chủ yếu định rõ RLCXLC đó là: Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD - 10) của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1992 và Sổ tay Chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần của Hiệp hội Tâm thần học Mỹ năm 2013 (DSM - 5). Hai hệ thống này dùng hầu hết các tiêu chuẩn chẩn đoán tương tự như nhau [14], [33].
Theo phân loại của ICD - 10 (1992) Giai đoạn hưng cảm thường bắt đầu đột ngột, kéo dài từ 2 tuần đến 5 tháng. Giai đoạn trầm cảm có khuynh hướng kéo dài hơn, thời gian trung bình khoảng 6 tháng, hiếm khi kéo dài đến 1 năm [14], [15]. Tần số các giai đoạn bệnh với sự thuyên giảm rất đa dạng, nhưng thời gian thuyên giảm có khuynh hướng ngày càng ngắn hơn.0 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ.1 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm không có triệu chứng loạn thần.2 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm có triệu chứng loạn thần.3 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa (không có triệu chứng cơ thể và có triệu chứng cơ thể).4 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng không có các triệu chứng loạn thần.5 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng có triệu chứng loạn thần.6 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hỗn hợp.7 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn thuyên giảm.8 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực khác.9 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực không biệt định.0 Khí sắc chu kỳ 1. Theo phân loại của DSM - 5 (Mỹ, năm 2013) Rối loạn cảm xúc lưỡng cực bao gồm: RLLC I, RLLC II, Rối loạn khí sắc chu kỳ, RLLC do chất/thuốc gây ra, RLLC do bệnh lý khác gây ra và RLLC không biệt định khác [33].
6 - RLLC I: là rối loạn có đặc trưng với sự xuất hiện một hoặc nhiều giai đoạn hưng cảm hoặc các giai đoạn pha trộn (hỗn hợp) và một hoặc nhiều giai đoạn trầm cảm điển hình rõ rệt tương phản sâu sắc với các giai đoạn hưng cảm, dẫn đến suy giảm trầm trọng các chức năng. - RLLC II: là rối loạn có đặc trưng bằng một hoặc nhiều giai đoạn trầm cảm điển hình với ít nhất một giai đoạn hưng cảm nhẹ dẫn đến suy giảm chủ yếu chức năng xã hội hay chức năng nghề nghiệp. RLLC II thường bị chẩn đoán nhầm là giai đoạn trầm cảm hoặc trầm cảm tái diễn vì đa số bệnh nhân không nhớ đến các giai đoạn hưng cảm nhẹ nếu như không có sự gợi ý từ bạn bè hoặc người thân. Vì vậy, trong khi thăm khám bệnh các thông tin thu thập được từ người cung cấp thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chẩn đoán RLLC II.
- Khí sắc chu kỳ: là một trạng thái khí sắc không ổn định kéo dài, bao gồm nhiều thời kỳ rối loạn trầm cảm nhẹ và rối loạn hưng cảm nhẹ. Các trạng thái khí sắc có thể thay đổi nhanh từ ngày này sang ngày khác. Khí sắc chu kỳ hình thành bởi một rối loạn khí sắc dao động, mạn tính và áp dụng cho một số giai đoạn của các triệu chứng hưng cảm nhẹ hoặc trầm cảm nhưng không đủ về số lượng, độ nặng, độ dài để thỏa mãn các tiêu chuẩn cho một giai đoạn hưng cảm hoặc một giai đoạn trầm cảm điển hình. Sự bất ổn này thường phát triển sớm ở lứa tuổi thành niên và tiếp tục tiến trình mạn tính, mặc dù đôi lúc khí sắc có thể bình thường và ổn định trong nhiều tháng liên tục.
Bệnh nhân thường cho rằng, các dao động khí sắc này không liên quan gì đến các sự kiện đời sống. Chẩn đoán sẽ khó khăn nếu không có thời kỳ quan sát dài hoặc không có những thông tin tốt về tác phong trước kia của bệnh nhân. DỊCH TỄ HỌC RỐI LOẠN CẢM XÚC LƢỠNG CỰC 1. Tỷ lệ mắc chung Tỷ lệ RLCXLC chiếm khoảng 1% dân số [95].
Theo nghiên cứu của Weissman và cộng sự (1996) [93], cho thấy tỷ lệ mắc RLCXLC ngày càng gia 7 tăng. Ở Mỹ, tỷ lệ rối loạn lưỡng cực là 1 - 1,6% trong suốt cuộc đời bao gồm tất cả các kiểu rối loạn khác nhau gặp ở những người trưởng thành (khoảng 2,5 triệu người mắc). Trong đó, 0,8% RLCXLC I và 0,5% RLCXLC II.