Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU 1. Đầu dưới xương chày Mặt dưới của đầu dưới xương chày tiếp khớp với diện ròng rọc xương sên, có gờ phía trước và phía sau để không cho xương sên ra trước và ra sau. Gờ sau xuống thấp hơn hay còn gọi là mắt cá sau (MCS), mắt cá thứ ba của Destot.
Mắt cá trong (MCT) là do xương chày kéo dài, bề mặt bên trong được bao phủ bởi sụn khớp và sụn phía trong của xương sên. Bề mặt bên trong của mắt cá chia bởi một đường rãnh dọc thành củ lớn ở phía trước, củ nhỏ ở phía sau, và đều là chỗ bám của dây chằng Delta. Đáy cũng là một rãnh trên bề mặt phía sau, nơi mà gân chày sau qua phía sau mắt cá và là nơi của bao gân bám vào. Đầu dưới xương mác Mắt cá ngoài (MCN) do xương mác tạo nên, chỉ nằm phía trên khớp cổ chân.
Xương mác nằm trong một rãnh, được hình thành bởi củ lớn ở phía trước, củ nhỏ ở phía sau của xương chày, không có bề mặt khớp giữa xương chày và xương mác, thậm chí thấy có di động giữa xương chày và xương mác. Ranh giới trong của xương mác được bao phủ bởi sụn khớp từ đầu xa của xương chày đến điểm giữa phía dưới trong chiều dài còn lại của xương mác. Đầu xa của xương mác thon nhỏ và có rãnh phía sau cho gân khoeo chạy qua. Đầu dưới hai xương cẳng chân [12] 1.
Xương sên Có 3 diện khớp: - Diện khớp hình ròng rọc: tiếp khớp với diện khớp mặt dưới xương chày, dài hơn rộng và rộng ở phía trước hơn phía sau do đó bình thường xương sên không bị bán sai khớp ra sau. Khi bàn chân trật ra sau thì xương sên làm toác gọng mộng, bẻ gãy 2 mắt cá, hay bẻ gãy MCT và làm gãy xương mác. - Diện khớp bên ngoài của xương sên tiếp xúc với MCN hình tam giác mà đỉnh trông xuống dưới. - Diện khớp phía trong tiếp giáp với mắt cá hình trong tam giác mà đỉnh trông ra sau.
Hệ thống dây chằng và bao khớp 1. Hệ thống dây chằng - Dây chằng bên trong: còn gọi là dây chằng Delta xếp làm 2 lớp. Lớp nông: rộng, hình quạt từ MCT xuống dưới tới xương sên, xương gót và xương ghe. Gồm có các phần: phần chày sên trước, phần chày gót và phần chày ghe.
Lớp sâu: bám từ phần sau trong của MCT, gần như chạy ngang bám vào trục quay của xương sên, giữ xương sên không trật ra ngoài. 5 Phần sâu chày Dây chằng chày sên trước sên trước Dây chằng chày gót Phần sâu chày sên sau Dây chằng chày ghe Hình 1. Các dây chằng khớp cổ chân phía trong [21] - Các dây chằng bên ngoài: Dây chằng mác sên trước: từ phần trước MCN đến phía trước ngoài của xương sên. Dây chằng mác sên sau: từ sau MCN đến phía sau ngoài xương sên.
Dây chằng mác gót: từ sau dưới MCN đến phía ngoài xương gót. Các dây chằng khớp cổ chân và khớp sên cẳng chân [21] - Dây chằng chày mác dưới gồm 3 phần: Phía trước: dây chằng chày mác trước, chạy từ bờ trước ngoài xương chày đến bờ trước đầu dưới xương mác. 6 Phía sau: dây chằng chày mác sau và dây chằng ngang dưới, chạy từ mắt cá sau đến phía sau đầu dưới xương mác, dây chằng chày mác sau ở trên, dây chằng ngang ở dưới. Màng gian cốt: nối xương chày và xương mác trên suốt chiều dài của xương, phía dưới dày lên thành dây chằng gian cốt.
[9] [18] [30] [Typ ea quot e Hình 1. Hệ thống dây chằng chày mác dưới [21] from 1. Bao khớpthe docu men vi các diện khớp, ở phía trước mỏng, hai bên dày lên Bám vào chu t or thành các dây chằng. Liên quansum vùng cổ chân mary 1.
Động mạch of an Động mạch inter chày trước: là 1 trong 2 nhánh tận của động mạch khoeo. Từ estin bờ dưới cơ khoeo, đến khớp cổ chân thì đổi tên thành động mạch mu chân. Ở g poin nó chạy ra trước giữa 2 đầu của cơ chày sau, rồi qua bờ vùng cẳng chân sau, t. trên màng gian cốt You để ra khu cẳng chân trước.
Ở 2/3 trên, động mạch chày trước cùng thần kinh can mác sâu nằm trước màng gian cốt, ngoài cơ chày trước posit và trong cơ duỗi ion các ngón chân dài, đến 1/3 dưới, nó chạy trước xương chày the text box any wher e in 7 và khớp cổ chân. Động mạch chày sau: là nhánh tận của động mạch khoeo chạy phía sau trong cổ chân, xuống ống gót chia làm hai ngành gan chân trong và gan chân ngoài đi theo hai tầng của ống gót. Tĩnh mạch Tĩnh mạch hiển lớn là tĩnh mạch dài nhất cơ thể, tiếp theo đầu trong cung tĩnh mạch mu chân và tĩnh mạch mu chân ngón cái, đi lên qua phía trước MCT 1 – 2 cm, dọc theo phía trong cẳng chân, gối và đùi rồi đổ vào tĩnh mạch đùi ở 3 cm dưới dây chằng bẹn. Nó có giá trị đối với dẫn lưu tĩnh mạch của bàn chân bị chấn thương và nên bảo tồn nếu có thể.
Tĩnh mạch hiển bé bắt nguồn từ đầu ngoài cung tĩnh mạch mu chân và tĩnh mạch mu ngoài ngón út. Từ dọc bờ ngoài mu chân đi lên ở sau MCN, theo bờ ngoài của gân gót, rồi đi chếch dần vào giữa mặt sau cẳng chân lên vùng khoeo, chọc qua mạc khoeo đổ vào tĩnh mạch khoeo. Thần kinh Phía trước: ở nông có các ngành tận của thần kinh mác nông. Ở lớp sâu có thần kinh mác sâu.
Phía sau: ở lớp nông có các nhánh tận của thần kinh hiển, nhánh gót trong của thần kinh chày. Lớp sâu thần kinh chày tới ống gót chia làm 2 ngành: thần kinh gan chân trong và gan chân ngoài. Gân cơ vùng cổ chân Phía trước: chạy dưới mạc hãm các gân duỗi, xếp thành một hàng từ trong ra ngoài có gân cơ chày trước, gân cơ duỗi dài ngón cái, gân cơ duỗi dài các ngón chân. Mỗi gân có một bao hoạt dịch riêng.
Các cơ này tham gia vào động tác gấp cổ chân về phía mu, xoay trong. Phía sau: có gân gót và gân cơ gan chân xuống bám vào nửa dưới mặt sau xương gót, tham gia động tác gấp bàn chân về phía gan chân. 8 Phía sau ngoài: có gân cơ mác dài và mác ngắn, chạy sau MCN. Tham gia động tác gấp bàn chân về phía gan chân, xoay ngoài và sấp.
Phía sau trong: là ống gót gồm bó mạch thần kinh chày sau và các gân cơ cẳng chân sau, cơ gấp dài các ngón chân, cơ gấp dài ngón cái. Tham gia động tác gấp bàn chân về phía gan chân, ngửa bàn chân. Sinh lý và chức năng khớp cổ chân Khớp cổ chân bao gồm ba mặt khớp: mặt khớp của trần xương chày với xương sên, sên - MCT, sên - MCN. Mộng chày mác bao gồm mặt dưới xương chày, hai bên là MCT và MCN liên kết với nhau bởi khớp chày mác dưới, giữ chặt xương sên ở giữa.
Xương sên truyền sức nặng của toàn thân xuống cho xương gót (điểm tỳ vững) và cho vòm bàn chân (điểm tỳ đàn hồi). Vì vậy chỉ cần biến dạng rất nhỏ của mộng chày mác và xương sên di lệch ra ngoài cũng đủ gây đau khi đứng và đi lại. Tình trạng này kéo dài sẽ gây biến dạng, thoái hóa mặt khớp cổ chân. Động tác chính của khớp cổ chân gồm gấp và duỗi bàn chân.
Giới hạn biên độ hai động tác là 70o. Ngoài ra, khớp cổ chân còn tham gia các động tác khác như: xoay ngoài - xoay trong, dạng - khép, sấp - ngửa. CƠ CHẾ CHẤN THƯƠNG VÀ GIẢI PHẪU BỆNH HỌC Năm 1771, Jean - Pierre David lần đầu tiên mô tả cơ chế gãy mắt cá đó là hướng lực làm xoay ngoài bàn chân. Dupuytren đã mô tả chấn thương vùng cổ chân do lực chấn thương làm dạng bàn chân gây ra những tổn thương: gãy MCT, gãy thân xương mác, tổn thương dây chằng chày mác dưới, ông cũng mô tả trật xương sên ra ngoài gây toát mộng chày mác.
9 Huguier (1848): đã nghiên cứu thêm hướng lực chấn thương làm xoay ngoài bàn chân gây gãy mắt cá trong hoặc đứt dây chằng Delta, gãy xương mác ở 1/3 dưới đến 1/3 trên. Sự ra đời của tia X và những ứng dụng trong y học đã giúp cho nhiều tác giả nghiên cứu về cách phân loại tổn thương, cơ chế chấn thương vùng cổ chân như: Ashurst - Brommer (1922), Lauge - Hansen (1948), AO (1958), Danis Weber (1966). Hình ảnh gãy mắt cá do cơ chế sấp xoay ngoài [21] Hình 1. Hình ảnh gãy mắt cá do cơ chế sấp dạng [21] Hình 1.
Hình ảnh gãy mắt cá do cơ chế ngửa xoay ngoài [21] 10 Hình 1. Hình ảnh gãy mắt cá do cơ chế ngửa khép [21] Có nhiều cơ chế chấn thương tùy thuộc vào tư thế của bàn chân và hướng lực gây chấn thương. Ứng với từng cơ chế có những hình thái tổn thương khác nhau. Những thương tổn thường gặp trong gãy mắt cá là: - Gãy MCT: nếu do dây chằng Delta căng giãn thì đường gãy ngang, nếu do xương sên đè nén trực tiếp thì đường gãy đứng dọc (cơ chế ngửa – khép).
- Gãy xương mác: ở 1/3 dưới hoặc đầu dưới, vị trí đường gãy ở trên, dưới hoặc ngang mức dây chằng chày mác dưới, hình thái đường gãy có thể ngang, chéo hoặc có mảnh rời tùy theo cơ chế chấn thương. - Toát mộng chày mác, trật khớp chày sên ra ngoài và ra sau. - Gãy MCS, trật xương sên ra sau. - Tổn thương hệ thống dây chằng, màng gian cốt.
PHÂN LOẠI GÃY MẤT CÁ CHÂN Có nhiều cách phân loại gãy mắt cá chân, cách phân loại thô sơ là gãy 1 mắt cá, 2 mắt cá hay 3 mắt cá. Tuy nhiên, có nhiều cách phân loại tốt hơn như: 1. Phân loại của Lauge - Hansen Dựa vào tư thế của bàn chân khi bị tác động và hướng của lực chấn thương. Theo phân loại của Lauge Hansen thì gãy mắt cá gồm các loại sau: [37] 11 - Loại ngửa xoay ngoài: đây là loại hay gặp nhất.
Cổ chân bị vẹo ra ngoài gây gãy chéo đầu dưới xương mác và gãy rách dây chằng Delta ở MCT hay gãy ngang MCT. - Loại ngửa khép: cổ chân bị vẹo vào trong, làm gãy ngang đầu dưới xương mác và gãy chéo, đứng dọc ở MCT. - Loại sấp dạng: gãy ngang MCT và gãy chéo ngắn MCN, ở MCN đường gãy gần như nằm ngang. - Loại sấp xoay ngoài: dây chằng Delta ở MCT bị rách hay gãy MCT, kèm gãy chéo ngắn cao xương mác ở trên khớp cổ chân.