Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 GIẢI PHẪU, SINH LÝ LIÊN QUAN TẮC MẬT 1. Giải phẫu Đường mật gồm 2 phần: đường mật chính và đường mật phụ (túi mật). Đường mật chính (hình 1.1, bên trái) bao gồm đường mật trong và ngoài gan. Đường mật phụ (hình 1.1, bên phải) gồm cổ túi mật và túi mật [70].1: Hệ thống đường mật 4 - Trong gan, các tế bào gan xếp thành bè hướng về tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy gan.
Thành bên của màng tế bào giữa các tế bào gan tạo thành các vi quản mật. Các tế bào gan từ bè Remark bài tiết mật đổ vào các vi quản mật, rồi đổ vào các mật quản ở khoảng cửa của tiểu thuỳ gan, các ống này tập trung lại thành các ống lớn hơn tạo thành ống mật của các hạ phân thuỳ gan, rồi phân thuỳ gan và các ống gan phải và ống gan trái, sau đó hợp lại ở rốn gan để tạo thành ống gan chung. Ống gan chung dài chừng 3 cm, đổi tên thành ống mật chủ (OMC) từ chỗ đổ vào của cổ túi mật. Phần thấp của OMC chạy sau đầu tuỵ đổ vào đoạn II của tá tràng, phần cơ trơn ở đây dày lên tạo thành nhú Vater.
Trước khi đổ vào tá tràng OMC và ống Wirsung có một đoạn chung gọi là ống mật - tuỵ dài khoảng 0,5 - 1 cm. Sinh lý Mật (được các tế bào gan bài tiết ra) là một chất lỏng trong suốt màu vàng, độ pH từ 7 - 7,7, gồm muối mật (tác dụng nhũ tương hoá lipid, hoạt hoá lipase và kích thích bài tiết mật), sắc tố mật (bilirubin - dạng đào thải của Hb) và một số chất khác như điện giải, cholesterol, phosphatase kiềm… Tại túi mật 50% lượng mật được gan bài tiết sau khi được cô đặc bằng cách hấp thu lại nước và các chất khoáng được dự trữ ở đây, khi có sự kích thích bài tiết mật của thức ăn, dịch mật được tống xuống tá tràng tham gia quá trình tiêu hoá. Chức năng của dịch mật bao gồm nhũ tương hóa lipid giúp cho tác dụng enzym lipase của tụy tăng lên gấp 3- 4 lần; giúp hòa tan các a-xít béo và các vitamin tan trong dầu, tạo điều kiện cho chúng hấp thu dễ dàng qua niêm mạc ruột; tạo môi trường kiềm giúp cho các enzym tiêu hóa hoạt động; kích thích nhu động ruột giúp cho tiêu hóa được tốt hơn; kích thích tụy tiết dịch tụy và kích thích gan tái tạo mật; ức chế hoạt động của các vi khuẩn đường ruột, chống lên enzym thối ở ruột [53]. Đường mật thường được duy trì trong tình trạng vô trùng bởi sự tiết dịch mật liên tục và tác dụng kềm khuẩn của muối mật.
Trong điều kiện dòng chảy mật bình thường, dịch mật không phải môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn [64]. Áp lực trong hệ thống đường mật bình thường thay đổi từ 5-10 cmH2O. Tuy nhiên, khi có sự hạn chế dòng chảy của mật dẫn đến sự ứ đọng dịch mật thì áp lực này có thể lên đến 30 cmH2O, sẽ làm trào ngược dịch mật vào các 5 xoang gan dẫn đến tăng bilirubin máu gây vàng da; đồng thời cũng gia tăng nguy cơ nhiễm khuẩn ngược dòng từ đường mật vào máu và bạch mạch. Nghiên cứu của tác giả Yunfu LV và cs [67] cho thấy khi có sự tắc nghẽn xảy ra sẽ dẫn đến sự gia tăng áp lực trong đường mật, đường kính ống mật giãn ra và gia tăng bilirubin máu trước khi có triệu chứng vàng da.
Tuy nhiên, áp lực đường mật không còn tăng sau khi ở mức đỉnh là 28 – 38mmHg, đường kính ống mật cũng không tăng sau khi đạt mức đỉnh là 7,5mm, nhưng bilirubin máu vẫn tiếp tục gia tăng. Điều này chứng tỏ đã có sự giải phóng áp lực trong đường mật thông qua sự trào ngược dịch mật. Nguyên nhân là do khi áp lực trong đường mật tăng lên, sẽ làm các các liên kết giữa tế bào gan và tế bào ống mật bị phá vỡ, dẫn đến sự gia tăng tính thấm của ống mật, gây trào ngược dịch mật vào xoang gan. ĐẠI CƯƠNG VỀ NHIỄM KHUẨN HUYẾT VÀ TẮC MẬT 1.
Một số định nghĩa Nhiễm khuẩn huyết: Theo định nghĩa Sepsis 1: Có bằng chứng rõ hoặc nghi ngờ nhiễm trùng kèm ít nhất 2 tiêu chuẩn của hội chứng đáp ứng viêm hệ thống: - Nhiệt độ >380C hoặc <360C - Nhịp tim >90 lần/phút - Nhịp thở >20 lần/phút hoặc PaCO2 <32 mmHg - Bạch cầu >12.000/mm3 hoặc >10% bạch cầu non Theo định nghĩa Sepsis 2 [80]: Có bằng chứng rõ hoặc nghi ngờ nhiễm trùng kèm hội chứng đáp ứng viêm hệ thống với các thông số sau: - Thông số chung: + Sốt: nhiệt độ trung tâm >38,30C + Hạ thân nhiệt: nhiệt độ trung tâm <360C + Nhịp tim >90 lần/phút hoặc >2 lần độ lệch chuẩn giá trị bình thường theo tuổi. + Nhịp thở nhanh: >20 lần/phút + Thay đổi ý thức + Phù rõ hoặc cân bằng dịch dương tính (>20 ml/kg/24 giờ) 6 + Tăng đường huyết: đường huyết >110mg/dL hoặc >7,7 mmol/L mà không kèm theo đái tháo đường. - Thông số viêm: + Tăng bạch cầu: số lượng bạch cầu >12.000/mm3 + Hạ bạch cầu: số lượng bạch cầu <4.000/mm3 + Số lượng bạch cầu bình thường nhưng >10% bạch cầu non + CRP >2 lần độ lệch chuẩn giá trị bình thường + PCT >2 lần độ lệch chuẩn giá trị bình thường. - Thông số huyết động: + Hạ huyết áp: huyết áp tâm thu <90 mmHg, huyết áp trung bình <70 mmHg, huyết áp tâm thu giảm >40 mmHg ở trường trưởng thành hoặc <2 lần độ lệch chuẩn bình thường theo tuổi.
+ Độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn (SvO2) >70% + Chỉ số cung lượng tim >3,5 lít/phút/m2 - Thông số rối loạn cơ quan: + Thiếu oxy máu động mạch: PaO2/FiO2 <300 mmHg + Thiểu niệu cấp tính: lượng nước <0,5 ml/kg/h hoặc 45 mmol/L trong ít nhất 2 giờ. + Tăng creatinin >0,5 mg/dL. + Bất thường đông máu: INR>1,5 hoặc aPTT >60 giây + Liệt ruột: không có nhu động ruột + Giảm tiểu cầu: số lượng tiểu cầu <100.000/µL + Tăng bilirubin máu: bilirubin toàn phần >4 mg/dL hoặc 70 mmol/L - Thông số tưới máu mô: + Tăng lactate máu >1 mmol/L + Giảm đổ đầy mao mạch Theo định nghĩa Sepsis 3 [78]: Là tình trạng suy đa cơ quan đe dọa tính mạng do rối loạn điều hòa đáp ứng của cơ thể với nhiễm khuẩn. Suy đa cơ quan có thể được xác định là một thay đổi cấp tính với tổng số điểm SOFA ≥ 2 điểm do hậu quả của nhiễm trùng (bảng 1.2: Thang điểm SOFA [75] Điểm SOFA 1 2 3 4 Hô hấp <200 cần hỗ <100 cần hỗ <400 <300 PaO2/FiO2 (mmHg) trợ hô hấp trợ hô hấp Đông máu Số lượng tiểu cầu <150 <100 <50 <20 x 103/mm3 Gan 1,2 – 1,9 2,0 – 5,9 6,0 – 11,9 >12,0 Bilirubin (md/dL) Tim mạch HA trung Dopamine Dopamin >5 Dopamine >15 Hạ huyết áp bình <70 ≤5 hoặc hoặc hoặc mmHg dobutamine norepinephrine norepinephrine (bất kể liều) ≤0,1 >0,1 Thần kinh TW Điểm Glasgow 13 - 14 10 - 12 6-9 <6 Thận Creatinine (mg/dL) hoặc nước tiểu 1,2 – 1,9 2,0 – 3,4 3,4 – 4,9 >5,0 (mL) hoặc <500 hoặc <200 Ghi chú: - Tất cả đơn vị liều catecholamine là µg/kg/phút.
- Suy đa cơ quan được định nghĩa là tăng điểm SOFA ≥2 điểm. Nếu không biết tình trạng rối loạn chức năng cơ quan cơ quan trước đó thì điểm SOFA ban đầu được tính là 0. Nhiễm khuẩn huyết thứ phát sau tắc mật là nhiễm khuẩn huyết do biến chứng của tình trạng tắc mật khi sự tắc nghẽn đường mật chưa được giải quyết, với biểu hiện rất đa dạng, diễn tiến thường nặng và không có chiều hướng tự khỏi nếu không được điều trị kịp thời [86]. Định nghĩa tắc mật: Tắc mật được định nghĩa là tình trạng ứ đọng mật, có thể do suy giảm chức chức năng bài tiết mật của tế bào gan (gọi là ứ mật trong gan) và/hoặc do sự tắc nghẽn tại bất kì vị trí nào trên hệ thống bài tiết mật, từ mức độ tế bào gan (thành vi 8 quản mật do thành bên của tế bào gan tạo thành) đến bóng Vater tại tá tràng (gọi là tắc nghẽn ống mật).
Sinh lý bệnh tắc mật Hậu quả tắc mật kéo dài: gây ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ quan như - Tiêu hóa: + Tắc mật kéo dài dẫn đến tình trạng kém hấp thu chất béo, vitamin tan trong mỡ (A, D, E, K) và đi ngoài phân mỡ. Thiếu vitamin A khiến bệnh nhân dễ bị quáng gà, thiếu vitamin D góp phần gây bệnh lý gan, thiếu vitamin K gây suy nhược thần kinh cơ ở trẻ em. Đặc biệt, thiếu hụt vitamin K cần phải cảnh giác vì liên quan đến tình trạng rối loạn đông máu, biểu hiện là thời gian prothrombin kéo dài, tăng nguy cơ chảy máu trong phẫu thuật [64]. + Mật ứ trong gan kèm nội độc tố vi khuẩn tích tụ do tắc nghẽn đường mật gây tổn thương tế bào gan với biểu hiện sinh hóa như tăng AST, ALT, giảm albumin máu, …, dần dẫn đến suy gan [64].
+ Vi khuẩn từ đường ruột có thể xâm nhập vào đường mật khi xảy ra sự tắc nghẽn dòng lưu thông mật (thường gặp ở tắc nghẽn không hoàn toàn) hoặc thông qua hàng rào niêm mạc ruột bị suy, hoặc thông qua các thủ thuật hoặc phẫu thuật can thiệp vào đường mật gây nhiễm trùng đường mật, thậm chí NKH [64]. - Thận: Các nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh nhân vàng da tắc mật có nguy cơ cao suy thận cấp do (1) nội độc tố của vi khuẩn gây co mạch, (2) suy chức năng gan gây mất dịch vào khoang thứ 3 (do giảm albumin máu và/hoặc tăng áp lực cửa khi có xơ gan hiện diện) và mất máu trong phẫu thuật (do rối loạn đông máu) (3) chức năng tim mạch suy giảm và phản ứng của các chất hoạt động mạnh bị suy giảm, (4) tác dụng độc trực tiếp của các chất chuyển hóa ở gan đối với thận [64]. - Tim mạch: Vàng da tắc mật gây tình trạng giảm phản ứng của mạch máu và tăng nguy cơ hạ huyết áp sau giải áp đường mật. Acid mật cũng được chứng minh gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự dẫn truyền và co bóp cơ tim, làm nhịp tim chậm và ngừng tim trên thực nghiệm [64].
9 - Điều trị: + Liệu pháp kháng sinh không đạt hiệu quả tối ưu cho đến khi đường mật được thông thoáng [64]. + Suy chức năng gan trong tắc mật dẫn đến việc suy giảm khả năng thải trừ thuốc ở gan (tức là chuyển hóa, bài tiết mật hoặc cả hai) đặt ra nhiều thách thức cho việc gây mê trong phẫu thuật [64].