Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về tai biến mạch máu não 1. Định nghĩa và phân loại tai biến mạch máu não Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (1989), tai biến mạch máu não (TBMMN) là hội chứng thiếu sót chức năng não khu trú hơn là lan tỏa, xảy ra đột ngột, tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trong vòng 24 giờ, loại trừ nguyên nhân sang chấn não [75]. Về mặt lâm sàng, tai biến mạch máu não được chia thành 2 thể chính: chảy máu não và nhồi máu não.
Nhồi máu não còn được gọi là thiếu máu cục bộ não, xảy ra khi mạch máu não bị tắc hoặc bị nghẽn, khu vực não được tưới máu bởi mạch máu đó bị thiếu máu và hoại tử [33]. Tình hình tai biến mạch máu não 1. Tình hình tai biến mạch máu não trên thế giới Tỷ lệ mới xuất hiện tai biến mạch máu não ở Mỹ hàng năm khoảng 500.000 người mỗi năm, hiện tại để lại gần 3 triệu người sống sót sau tai biến mạch máu não. Chi phí kinh tế không ngừng gia tăng do tiêu tốn khoảng 41 tỷ đôla Mỹ mỗi năm để điều trị và chăm sóc sức khỏe cho những người mất khả năng lao động.
Dự báo tai biến mạch máu não có xu hướng tăng trong 30 năm tới: năm 1995 có 12,8% người Mỹ tuổi trên 65 bị tai biến mạch máu não và tới năm 2025 sẽ có 18,7%. Tỷ lệ sống sót (do tai biến mạch máu não hoặc tai biến thoáng qua) là 12.000/1triệu dân, trong đó có 800 người (7%) bị tái phát hàng năm [64]. Ở các nước Châu Á, trong hai thập kỷ qua tỷ lệ tai biến mạch máu não cũng đang tăng hàng năm. Thái Lan năm 1950, tỷ lệ tử vong 3,7/100.000 dân 4 đến năm 1983 là 11,8/100.
Tỷ lệ mới mắc năm 1980 là 12,7/100.000 dân đến 1984 là 18,7/100. Các nước khác như ở Trung Quốc, Nhật Bản tình hình TBMMN cũng đang gia tăng ở mức nghiêm trọng [64]. Tình hình tai biến mạch máu não tại Việt Nam Theo Nguyễn Văn Đăng (1997), qua mẫu điều tra 976.441 người thấy tỷ lệ hiện mắc là 75,14/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc là 53,2/100. Theo Hoàng Khánh (1996), nghiên cứu tại Huế trong 10 năm thấy tỷ lệ hiện mắc là 288/100.
Theo Đặng Quang Tâm (2004), tại Thành phố Cần Thơ tỷ lệ hiện mắc là 129,56/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc năm là 29,4/100. Tỷ lệ nhồi máu não luôn chiếm ưu thế hơn so với thể chảy máu não. Ở Huế theo Hoàng Khánh và cộng sự (2002), tỷ lệ nhồi máu não là 60,6% và chảy máu não là 39,4%. Ở Hà Nội theo Nguyễn Văn Chương và cộng sự (2004), tỷ lệ nhồi máu não là 76% và chảy máu não là 24% [26].
Sơ lược giải phẫu hệ tuần hoàn não 1. Hệ thống cung cấp máu trực tiếp Não được tưới máu bởi bốn mạch máu chính: hai động mạch cảnh trong ở phía trước và hai động mạch đốt sống-thân nền ở phía sau. Hai hệ thống này nối thông với nhau ở nền sọ tạo nên đa giác Willis. Mỗi động mạch cảnh trong cho bốn nhánh tận là động mạch não trước, động mạch não giữa, động mạch mạch mạc trước và động mạch thông sau.
Trong đó động mạch não giữa tưới máu cho khu vực rộng nhất và thường xảy ra tai biến nhất. Hai động mạch đốt sống phải và trái, sau khi chui qua lỗ chẩm đến bờ dưới của cầu não hợp lại thành động mạch thân nền, cho nhánh tận là động mạch não sau và các nhánh nuôi vùng cầu não và tai trong. Mỗi nhánh tận đều chia ra hai khu vực tưới máu: khu vực nông (vỏ não) có nhiều nhánh thông nối với nhau, đặc biệt là trên bề mặt vỏ não, những 5 mạch này chịu áp lực thấp nên khi huyết áp hạ dễ gây thiếu máu cục bộ. Khu vực sâu (trung tâm) có các nhánh tận không thông nối với nhau và thường chịu áp lực cao do đó dễ bị vỡ khi tăng huyết áp.
Hai nhánh sâu dễ bị chảy máu nhất là động mạch Heubner (nhánh sâu của động mạch não trước) và động mạch Charcot (nhánh sâu của động mạch não giữa). Hai khu vực nông và sâu được tưới máu độc lập với nhau, không có mạch bàng hệ quan trọng, tạo nên một đường vành đai ranh giới nằm dưới chất trắng gọi là vùng giới hạn và là nơi thường xảy ra thiếu máu cục bộ nhất [6]. - Động mạch não giữa: các nhánh nông của động mạch não giữa tưới máu cho phần lớn mặt ngoài của bán cầu thùy trán, đỉnh, ba hồi thùy thái dương, thùy đảo và phần chất trắng dưới vỏ. Các nhánh sâu của động mạch não giữa (động mạch Charcot) tưới máu cho phần lớn các nhân của thể vân, bao trong, bao ngoài và trước tường.
Nhồi máu vùng chi phối của động mạch não giữa chiếm tỷ lệ cao nhất (46,2% trên 467 bệnh nhân của Hoàng Đức Kiệt) [6]. - Động mạch não trước: hai động mạch não trước nối với nhau bằng động mạch thông trước. Các nhánh nông của động mạch não trước tưới máu cho mặt trong của thùy trán và thùy đỉnh, bờ trên và khoảng 1/3 diện tích phần trên của bán cầu đại não, phần trong của mặt dưới thùy trán, 4/5 trước của thể chai. Các nhánh sâu của động mạch não trước (động mạch Heubner) tưới máu cho đầu của nhân đuôi, phần trước của nhân đậu, nửa trước của cánh tay trước bao trong, phần trước của đồi thị.
- Động mạch mạch mạc trước: tưới máu cho dải thị, thể gối ngoài, các nhân xám, phần trước của vỏ hồi hải mã, cánh tay sau của bao trong và đám rối mạch mạc. 6 - Động mạch thông sau: nối thông động mạch não giữa và động mạch não sau. Động mạch này tưới máu cho đồi thị, hạ khâu não, cánh tay sau của bao trong, vùng thể Luys và chân cuống não. - Động mạch thân nền: được tạo thành bởi sự hợp lại của hai động mạch đốt sống tại rảnh hành-cầu, có chiều dài từ rảnh hành cầu đến rảnh cầu- cuống.
Động mạch thân nền tưới máu cho phần cao của hành não hay hố bên của hành và cầu não, flocculus, tai trong và tiểu não. - Động mạch não sau: từ đoạn cuối của động mạch thân nền, chia thành hai động mạch não sau, vừa rời chỗ bắt đầu gặp động mạch thông sau, nối với động mạch não giữa. Động mạch não sau chia thành các nhánh: những nhánh bàng hệ tưới máu cho não giữa, đồi thị, động mạch mạch mạc sau; những nhánh tận tưới mặt dưới và trong thùy thái dương, phần sau của thể chai, thể gối ngoài và mặt trong của thùy chẩm (rảnh cựa) [6], [67]. Hệ thống tuần hoàn bàng hệ Hệ thống tuần hoàn bàng hệ còn được gọi là hệ thống nối, hệ thống tưới bù hay là những con đường bổ sung.
Hệ thống này đảm bảo an toàn trong việc tưới máu cho não. Một số mạch bàng hệ chính tưới máu não gồm có: - Vòng Willis (đa giác Willis): là vòng tuần hoàn bàng hệ ở nền sọ, nối những nhánh tận thuộc hệ động mạch cảnh trong với hệ động mạch đốt sống- thân nền qua động mạch thông trước và động mạch thông sau. Động mạch thông trước nối hai động mạch não trước. Động mạch thông sau nối hai hệ động mạch cảnh trong và động mạch đốt sống-thân nền.
- Mạng nối trên bề mặt vỏ não bán cầu: các nhánh tận của hệ động mạch cảnh và hệ động mạch đốt sống-thân nền nối thông với nhau tạo thành một màng nối chằng chịt trên bề mặt vỏ não. Mạng lưới này tưới bù cho vùng thiếu máu khi có tắc nghẽn xảy ra. 7 - Mạng nối ngoài sọ: trong nhu mô não, giữa các khu vực trung tâm và ngoại vi có rất ít hoặc không có những nhánh mạch nối có tầm quan trọng về mặt lâm sàng. Ngược lại, mạng nối bàng hệ giữa các mạch ngoài sọ và trong sọ lại rất quan trọng, phát triển đến mức khi có một sự tắc mạch, có khi cả mạch lớn vùng cổ vẫn có thể không gây triệu chứng lâm sàng.
Nối động mạch cảnh ngoài với động mạch cảnh trong qua động mạch mắt và động mạch hàm trong. Nối giữa động mạch cảnh ngoài với động mạch dưới đòn qua nhánh động mạch chẩm, nhánh động mạch cổ lên [67]. Nhờ có hệ thống các mạch nối thiết lập nhiều tầng mà máu có thể thông thương giữa hệ động mạch cảnh ngoài với hệ động mạch cảnh trong, hệ động mạch cảnh với hệ động mạch đốt sống-thân nền, hệ động mạch cảnh với động mạch dưới đòn, động mạch phía bên phải với động mạch phía bên trái, khu vực nông nối với khu vực nông, khu vực sâu nối với khu vực sâu,… Tuy nhiên, trong điều kiện bình thường các bàng hệ dường như không hoạt động, mỗi động mạch chỉ tưới máu cho một khu vực nhất định; chỉ khi có một tổn thương tắc hoặc hẹp, do sự chênh lệch áp lực trên và dưới chỗ tắc thì tuần hoàn bàng hệ mới được thiết lập. Có một số nguyên tắc chung cho hoạt động của tuần hoàn bàng hệ mạch máu não: chỗ tắc mạch càng xa não và càng gần quai động mạch chủ thì khả năng tưới bù càng lớn; sự tắc mạch xảy ra càng chậm, hệ thống mạch nối càng hiệu quả [6],[67].
Một số đặc điểm sinh lý chính của hệ tuần hoàn não 1. Lưu lượng máu não Người bình thường có lưu lượng máu não là 55mL/100g não/phút. Khi lưu lượng máu đến não quá thấp dưới 20mL/100g não/phút thì não sẽ thiếu máu, sự thiếu máu này nếu kéo dài trong vòng 30 giây sẽ gây rối loạn chuyển hóa ở não, nếu kéo dài trong một phút chức năng não sẽ ngừng hoạt động và 8 nếu kéo dài 5 phút sẽ xảy ra nhồi máu não. Khi xảy ra nhồi máu não thực sự, tổn thương sẽ có hai vùng.
Vùng trung tâm có lưu lượng máu rất thấp 10- 15mL/100g não/phút, các tế bào não sẽ chết, gọi là vùng hoại tử không có khả năng điều trị. Vùng chu vi có lưu lượng máu não 23mL/100g não/phút, tế bào không chết nhưng không hoạt động gọi là vùng nửa tối. Nếu được tưới bù do tuần hoàn bàng hệ vùng này hồi phục, gọi là vùng điều trị. Thời gian tồn tại vùng nửa tối gọi là cửa sổ điều trị, thường là 3-72 giờ.
Quá thời gian đó các tế bào chuyển sang hoại tử, vì vậy điều trị càng sớm càng tốt [72]. Não tiêu thụ oxy trung bình từ 3,3-3,8mL/100g não/phút. Đồng thời tiêu thụ lượng glucose trung bình 5,6mg/100g não/phút. Oxy và glucose phải được cung cấp liên tục và ổn định vì các tế bào não chỉ dự trữ một lượng glucose đủ dùng trong vài phút và không có khả năng dự trữ oxygen [6],[67].
Hiệu ứng Bayliss Lưu lượng máu não bình thường cố định 55mL/100g não/phút.