CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về nhồi máu cơ tim 1. Định nghĩa Theo định nghĩa toàn cầu lần 4 của Hội Tim mạch Châu Âu thì nhồi máu cơ tim là tình trạng tổn thương cơ tim cấp và có sự tăng lên của Troponin I với ít nhất một giá trị tăng trên 99% bách phân vị của nó và kèm theo ít nhất một dấu hiệu sau: - Các triệu chứng của thiếu máu cơ tim. - Thay đổi mới trên điện tâm đồ do thiếu máu cơ tim.
- Sự hình thành sóng Q bệnh lý. - Bằng chứng về hình ảnh mất đi sự sống còn cơ tim mới xuất hiện hoặc bất thường vận động vùng mới xuất hiện phù hợp với nguyên nhân thiếu máu cơ tim. - Xác định được huyết khối trong mạch vành bởi chụp mạch vành hoặc tử thiết [65]. Đặc điểm giải phẫu chức năng động mạch vành Bình thường quả tim được nuôi dưỡng bởi 2 động mạch vành: ĐMV phải và ĐMV trái.
Hai động mạch này xuất phát từ gốc của động mạch chủ và nhận máu từ động mạch chủ qua các xoang Valsalva, chạy trên bề mặt của tim (giữa cơ tim và lớp thượng tâm mạc) [3]. * Động mạch vành trái: 4 Hình 1. Giải phẫu động mạch vành trái Nguồn: Theo Lansky A.T Động mạch vành trái (hình 1.1) xuất phát từ xoang Valsalva trước trái, sau khi chạy một đoạn ngắn giữa động phổi và nhĩ trái (gọi là thân chung ĐM vành trái) sẽ chia ra thành hai nhánh: động mạch liên thất trước và động mạch mũ [3]. + Thân chung ĐMV trái bình thường dài khoảng 10 mm, đôi khi giải phẫu hệ mạch vành có thể không có thân chung, động mạch liên thất trước và mũ xuất phát từ hai lỗ riêng biệt.
+ ĐMLTT chạy dọc theo rãnh liên thất trước về phía mỏm tim, thành những nhánh vách và nhánh chéo. Khoảng 37% các trường hợp có nhánh trung gian và được coi như là nhánh chéo thứ nhất. - Những nhánh vách chạy xuyên vào vách liên thất, có số lượng và kích thước rất thay đổi. - Những nhánh chéo chạy sang thành trước bên, có từ 1-3 nhánh, có thể phát triển nhiều hay ít.
- ĐMLTT cấp máu cho khoảng 45-55% thất trái, gồm thành trước bên, mỏm tim và vách liên thất. 5 + ĐMM chạy trong rãnh nhĩ thất trái cho 2-3 nhánh bờ, cung cấp máu cho thành bên thất trái. ĐMM cấp máu khoảng 15-25% thất trái (trừ trong trường hợp ĐMM ưu năng, cấp máu khoảng 40-50% thất trái) gồm vùng sau bên và trước bên thất trái. * Động mạch vành phải: Hình 1.
Giải phẫu động mạch vành phải Nguồn: Theo Lansky A.T Có nguyên ủy từ xoang Valsalva trước phải. Động mạch vành phải chạy trong rãnh nhĩ thất phải. Ở đoạn gần cho nhánh vào nhĩ (động mạch nút xoang) và thất phải (động mạch phễu) rồi vòng ra bờ phải, tới chữ thập của tim chia thành nhánh động mạch liên thất sau và quặt ngược thất trái (hình 1. Khi ưu năng trái, động mạch liên thất sau và nhánh quặt ngược thất trái đến từ động mạch mũ.
* Phân chia động mạch vành theo CASS (Coronary Artery Surgery Study): - ĐMV phải chia làm 3 đoạn: + Đoạn gần: ½ đầu tiên giữa lỗ ĐMV phải và nhánh bờ phải. + Đoạn giữa: giữa đoạn gần và đoạn xa. 6 + Đoạn xa: từ nhánh bờ phải cho tới động mạch liên thất sau. Thân chung động mạch vành trái: từ lỗ động mạch vành trái tới chỗ chia thành ĐMLTT và ĐMM.
- Động mạch liên thất trước chia thành 3 đoạn: + Đoạn gần: từ chỗ chia cho tới nhánh vách đầu tiên. + Đoạn giữa: từ nhánh vách đầu tiên cho tới nhánh chéo hai. + Đoạn xa: từ sau nhánh chéo hai. - Động mạch mũ chia làm 2 đoạn: + Đoạn gần: từ chỗ chia cho tới nhánh bờ 1.
+ Đoạn xa: từ sau nhánh bờ 1. Ngoài ra còn phân loại của AHA 1975 và một số phân loại khác. Sinh lý tuần hoàn vành - Tuần hoàn mạch vành vừa là tuần hoàn dinh dưỡng của tim, đảm bảo cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng cho tim hoạt động, lại vừa chịu ảnh hưởng của hoạt động tim, vì tim co bóp tống máu vào động mạch chủ, nơi xuất phát của động mạch vành [5]. - Tuần hoàn mạch vành quan trọng ở chỗ nó đảm bảo cho tim hoạt động, tức là đảm bảo tưới máu cho toàn bộ cơ thể.
- Về mặt cấu trúc-chức năng, tuần hoàn mạch vành gồm hai động mạch là động mạch vành phải và động mạch vành trái, xuất phát từ quai động mạch chủ, ngay sau van tổ chim. Động mạch vành trái chủ yếu cung cấp máu cho mặt trước và mặt bên của tâm thất trái. Động mạch vành phải cung cấp máu cho toàn bộ tâm thất phải và mặt sau tâm thất trái [5]. - Ở tuần hoàn mạch vành có rất ít hệ thống nối thông các động mạch với nhau nên nếu bị tắc một động mạch, đặc biệt là động mạch lớn thì rất nguy hiểm vì thiếu cung cấp máu cho phần mô tương ứng, gây nhồi máu cơ tim, có thể dẫn đến tử vong.
7 - Tuần hoàn mạch vành diễn ra trong một khối cơ rỗng, luôn co bóp nhịp nhàng nên động học máu của tuần hoàn mạch vành cũng thay đổi một cách nhịp nhàng. Vì tâm thất trái co bóp mạnh hơn tâm thất phải nên tuần hoàn mạch vành ở tâm thất trái thay đổi theo nhịp hoạt động của tim nhiều hơn ở tâm thất phải. Máu tưới tâm thất trái chỉ có ở thì tâm trương, trong thì tâm thu hầu như không có máu tưới. Còn ở tâm thất phải thì máu tưới đều, tuy vậy trong thì tâm thu lượng máu tới tâm thất phải cũng ít hơn [5].
Cơ chế bệnh sinh của nhồi máu cơ tim Nguyên nhân phổ biến nhất của nhồi máu cơ tim là do nứt vỡ mảng xơ vữa động mạch vành. Các mảng xơ vữa có thể trở nên không ổn định, bị nứt vỡ và thúc đẩy sự hình thành cục máu đông gây tắc nghẽn động mạch; điều này có thể xảy ra trong vài phút. Sự tắc nghẽn của một động mạch có thể dẫn đến chết mô cơ tim được cung cấp bởi động mạch đó. Các mảng xơ vữa động mạch thường xuất hiện trong nhiều trước khi chúng gây ra các triệu chứng.
Sự tích tụ dần dần của cholesterol và mô xơ thành mảng tại thành động mạch vành hoặc các động mạch khác trong nhiều năm, được gọi là xơ vữa động mạch [72]. Xơ vữa động mạch được đặc trưng bởi tình trạng viêm tiến triển của thành động mạch. Tế bào viêm, đặc biệt là đại thực bào, di chuyển vào thành động mạch bị ảnh hưởng. Theo thời gian, chúng trở nên chứa đầy các sản phẩm cholesterol, đặc biệt là LDL-C, và trở thành các tế bào bọt.
Một lõi cholesterol hình thức như tế bào bọt chết. Để đáp ứng với các yếu tố tăng trưởng do đại thực bào tiết ra, cơ trơnvà các tế bào khác di chuyển vào mảng bám và hoạt động để ổn định nó. Một mảng bám ổn định có thể có một nắp xơ dày với sự vôi hóa. Nếu tình trạng viêm đang diễn ra, nắp có thể mỏng hoặc loét.
Tiếp xúc với áp lực liên quan đến lưu lượng máu, các mảng, đặc biệt là những mảng có lớp lót mỏng, có thể bị vỡ và kích hoạt sự hình thành cục máu đông (huyết khối) [43]. 8 Bệnh xơ vữa động mạch không phải là nguyên nhân duy nhất của nhồi máu cơ tim, và nó có thể làm trầm trọng thêm hoặc góp phần vào các nguyên nhân khác. Nhồi máu cơ tim có thể do tim có nguồn cung cấp máu hạn chế làm tăng nhu cầu oxy, chẳng hạn như sốt, nhịp tim nhanh, cường giáp, quá ít tế bào hồng cầu trong máu hoặc huyết áp thấp. Tổn thương hoặc thất bại của các thủ thuật như can thiệp động mạch vành qua da hoặc ghép nối động mạch vành có thể gây ra nhồi máu cơ tim [64].
Điều trị nhồi máu cơ tim cấp Điều trị nhồi máu cơ tim cấp là một cuộc chạy đua với thời gian và với phương châm “Thời gian là cơ tim, cơ tim là cuộc sống của người bệnh”. Chiến lược điều trị nhồi máu cơ tim cấp luôn được nhấn mạnh hàng đầu là chiến lược tái tưới máu cơ tim càng sớm càng tốt. Bên cạnh đó việc điều trị cũng bao gồm đánh giá tình trạng ban đầu, phát hiện sớm và khống chế các biến chứng, các thuốc cơ bản [13]. Điều trị ban đầu với bệnh nhân nhồi máu cơ tim cần đấp ứng các vấn đề sau: - Cung cấp đầy đủ oxy: Bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp thường kèm theo thiếu oxy, thường cho bệnh nhân thở oxy liều 2-4 lít, trường hợp suy hô hấp nặng có thể phải đặt ống nội khí quản và thở máy.
- Giảm đau đầy đủ: Giảm đau làm giảm tiết catecholamin trong máu góp phần làm giảm nhu cầu oxy cơ tim. - Sử dụng thuốc điều trị ban đầu bao gồm: Kháng kết tập tiểu cầu, chống đông, chẹn beta giao cảm (nếu không có chống chỉ định), các thuốc vận mạch, các thuốc chống loạn nhịp,. Quan trọng phải nhanh chóng lựa chọn phương pháp tái tưới máu cho bệnh nhân. Các phương pháp điều trị tái thông động mạch vành hiện nay bao gồm 3 phương pháp chính: 1.
Dùng thuốc tiêu sợi huyết. Can thiệp động mach vành qua da (PCI: percutaneous coronary intervention). Phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành (CABG) cấp khi không thể can thiệp hoặc khi có biến chứng [9]. * Tiêu sợi huyết: Liệu pháp tiêu sợi huyết là một chiến lược tái tưới máu quan trọng ở những cơ sở không có can thiệp động mạch vành thì đầu.
Lợi ích tuyệt đối được thấy ở những bệnh nhân có nguy cơ cao, bao gồm cả người cao tuổi, và khi điều trị trước 2 giờ sau khi khởi phát triệu chứng. Liệu pháp tiêu sợi huyết được khuyến cáo trong vòng 12 giờ kể từ khi có triệu chứng nếu không thể thực hiện can thiệp thì đầu trong vòng 120 phút kể từ khi chẩn đoán NMCT và không có chống chỉ định. Bệnh nhân biểu hiện càng muộn (đặc biệt sau 3 giờ), nên cân nhắc nhiều hơn việc chuyển bệnh nhân đến cơ sở PCI (thay vì điều trị liệu pháp tiêu sợi huyết) vì hiệu quả và lợi ích lâm sàng của tiêu sợi huyết giảm khi thời gian từ khi khởi phát triệu chứng tăng lên. Khi có chống chỉ định điều trị tiêu sợi huyết, điều quan trọng là phải cân nhắc hiệu quả cứu sống với các tác dụng phụ có thể đe dọa tính mạng [23].