CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. ĐẠI CƯƠNG BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP 1. Lịch sử nghiên cứu VKDT là một bệnh toàn thân có biểu hiện viêm mạn tính màng hoạt dịch khớp mà nguyên nhân chưa được biết rõ. Đặc điểm lâm sàng chủ yếu của bệnh là tình trạng viêm mạn tính của các khớp ngoại biên, trong đó hay gặp nhất là khớp cổ tay (90%), khớp bàn ngón tay (70%), khớp ngón gần bàn tay (80%) và thường biểu hiện trong giai đoạn sớm của bệnh.
Bệnh VKDT đã được biết đến từ lâu. Garrod đề ra thuật ngữ VKDT năm 1858. Waaler (1940) và Rose (1947) phát hiện ra RF bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu cừu. Steinbroker lần đầu tiên đưa ra tiêu chuẩn đánh giá tổn thương khớp trong VKDT trên Xquang năm 1949.
Năm 1958 Hội Thấp khớp học Mỹ (American College of Rheumatology: ACR) đề ra tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh VKDT (ACR 1958) gồm 11 tiêu chuẩn dựa vào lâm sàng, hình ảnh Xquang, mô bệnh học màng hoạt dịch và huyết thanh. Đến năm 1987, hội này đã thống nhất cải tiến tiêu chuẩn chẩn đoán VKDT gồm 7 tiêu chuẩn (ACR 1987) hiện nay vẫn được áp dụng trên lâm sàng. Năm 2010 Hội Thấp khớp học Mỹ (ACR) và Hội Thấp khớp học Châu Âu (European League Against Rheumatism: EULAR) đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán ACR/EULAR 2010. Bệnh VKDT gặp ở mọi nơi trên thế giới, chiếm khoảng 0,5 - 1% dân số.
Ở Việt Nam tỷ lệ bệnh VKDT chiếm 0,5% dân số và 20% các bệnh về khớp. Bệnh thường gặp ở nữ giới với tỷ lệ nam/nữ thay đổi từ 1 đến 4. Triệu chứng lâm sàng 4 Bệnh diễn biến mạn tính với các đợt cấp tính. Trong đợt cấp tính thường sưng đau nhiều khớp, kèm theo sốt và có thể có các biểu hiện nội tạng.
Biểu hiện tại khớp: Vị trí khớp tổn thương: thường gặp nhất là các khớp ngón gần, bàn ngón, cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân hai bên. Một số nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy: các khớp xuất hiện tổn thương sớm nhất là khớp cổ tay (50 - 60%), khớp bàn ngón tay, khớp gối gặp với tỷ lệ tương đương khoảng (10 - 15%). Những khớp như khớp vai, khớp khuỷu hiếm khi gặp ở giai đoạn khởi phát đầu tiên (2,4%). Bàn tay bệnh nhân viêm khớp dạng thấp * Nguồn: Bệnh nhân Nguyễn Thị D.
Số bệnh án 55 Tại thời điểm toàn phát, các vị trí khớp viêm thường gặp là: khớp cổ tay (80 - 100%), khớp bàn ngón (70 - 85%), khớp ngón gần (70 - 75%), khớp gối (55 - 75%), khớp cổ chân (40 - 75%), khớp khuỷu (20 - 50%), khớp vai (2,4 - 60%). Đôi khi có tổn thương khớp háng. Các khớp viêm thường đối xứng hai bên. Tính chất khớp tổn thương: trong đợt tiến triển, các khớp sưng đau, nóng, ít khi đỏ.
Đau kiểu viêm. Các khớp ngón gần thường có dạng hình thoi. Các khớp thường bị cứng vào buổi sáng. Trong các đợt tiến triển, dấu hiệu 5 cứng khớp buổi sáng này thường kéo dài trên một giờ.
Thời gian cứng khớp dài hay ngắn tuỳ theo mức độ viêm nặng hay nhẹ. Bao khớp Màng hoạt dịch Bạch cầu trung tính Sụn khớp Tăng sinh mạch máu Màng hoạt dịch Tế bào Mast Phì đại lớp lót màng hoạt dịch Xương Hình 1. Hình ảnh mô phỏng khớp bình thường (a) và khớp viêm (b) trong bệnh viêm khớp dạng thấp. (2012) Chú thích: Osteoclast: tế bào hủy xương; Fibroblast: nguyên bào sợi; Macrophage: đại thực bào; Dendritic cell: tế bào có tua; T cell: tế bào lympho T; Plasma cell: tương bào; B cell: tế bào lympho B.
Hình (b) cho thấy tình trạng viêm và tăng sinh hoạt tính các tế bào, dẫn đến tăng sản các tế bào lót trong màng hoạt dịch, viêm mạn tính màng hoạt dịch và bào mòn xương. Biểu hiện toàn thân và ngoài khớp: Hạt dưới da (hạt dạng thấp - Rheumatoid nodules): có thể có một hoặc nhiều hạt. Vị trí xuất hiện của hạt này thường ở trên xương trụ gần khớp khuỷu, trên xương chày gần khớp gối hoặc quanh các khớp nhỏ ở bàn tay. Tính chất của hạt chắc, không di động, không đau, không bao giờ vỡ.
Viêm mao mạch: biểu hiện dưới dạng hồng ban ở gan chân tay, hoặc các tổn thương hoại tử tiểu động mạch ở quanh móng, đầu chi hoặc tắc mạch lớn thực sự gây hoạt tử. Triệu chứng này báo hiệu tiên lượng nặng. Gân, cơ, dây chằng và bao khớp: các cơ cạnh khớp teo do giảm vận động. Tổn thương tim: (được trình bày chi tiết ở phần sau) 6 Tổn thương phổi: bệnh lý màng phổi là tổn thương phổi hay gặp nhất trong VKDT, có thể dẫn đến đau ngực do căn nguyên màng phổi, khó thở, cũng như tràn dịch màng phổi.
Triệu chứng cận lâm sàng Hội chứng viêm sinh học: biểu hiện bởi các chỉ số sau. - Hội chứng thiếu máu: xảy ra rất phổ biến, nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thiếu máu trong bệnh này từ 20-70%. Thiếu máu xuất hiện và phát triển chậm từ những tháng đầu tiên của bệnh, thường là thiếu máu nhẹ và vừa. Thiếu máu có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.
- TĐML: tăng trong các đợt tiến triển. - Tăng các protein viêm: CRP, fibrinogen, ferritin. Xét nghiệm miễn dịch Yếu tố dạng thấp RF: Năm 1940 Waaler và Rose (1947) phát hiện ra RF bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu cừu, do đó phản ứng tìm RF mang tên hai tác giả này: phản ứng Waaler - Rose và/ hoặc Latex. Kháng thể RF là kháng thể kháng vùng bất biến của globulin miễn dịch lớp IgG, nó gồm các typ IgG, IgM, IgA, IgE.
Typ IgM RF phổ biến nhất, typ IgG RF tạo nên các phức hợp miễn dịch rất lớn gây hoạt hóa hệ miễn dịch. Hiện nay có rất nhiều phương pháp định tính và định lượng RF, xong chủ yếu dùng phương pháp hấp thụ miễn dịch, ngưng kết hạt latex, hoặc đo quang kế miễn dịch. Có khoảng 60 - 80% BN VKDT có RF dương tính. Kháng thể kháng CCP (anti-cyclic citrulinated peptide antibodies: anti-CCP): Citruline được tạo thành từ acid amin arginine, sau khi đã loại bỏ nhóm amin.
Anti-CCP được chỉ định khi trên lâm sàng nghi ngờ bị bệnh VKDT và ở những BN đã có chẩn đoán VKDT, anti-CCP được dùng như một yếu tố để tiên lượng bệnh ,. Chẩn đoán hình ảnh 7 Hiện nay có rất nhiều phương pháp chẩn đoán hình ảnh được áp dụng để đánh giá các tổn thương khớp trong bệnh VKDT như Xquang quy ước, siêu âm, cộng hưởng từ. Xquang quy ước khớp: có các tổn thương sau: phù nề tổ chức phần mềm quanh khớp, mất chất khoáng phần đầu xương cạnh khớp, tổn thương bào mòn xương (erosion), hẹp khe khớp. Siêu âm khớp tổn thương: siêu âm phát hiện dễ dàng tình trạng viêm màng hoạt dịch, đặc biệt trong đợt tiến triển.
Siêu âm có thể phát hiện tổn thương viêm màng hoạt dịch từ giai đoạn sớm của bệnh VKDT, ngoài ra siêu âm còn phát hiện được hình ảnh bào mòn xương. Cộng hưởng từ khớp tổn thương: cộng hưởng từ phát hiện sớm được hiện tượng phù xương do hiện tượng viêm màng hoạt dịch gây xung huyết từng vùng của xương và sự xâm nhập của dịch rỉ viêm. Chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp Hiện tại, chẩn đoán VKDT dựa vào tiêu chuẩn ACR 1987 hoặc tiêu chuẩn ACR/EULAR 2010). Tiêu chuẩn ACR 1987 Gồm có 7 tiêu chuẩn: 1.
Thời gian cứng khớp buổi sáng kéo dài trên một giờ. Viêm ít nhất 3 trong số 14 khớp sau: ngón gần, bàn ngón tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân (2 bên). Trong đó có ít nhất một khớp thuộc các vị trí sau: ngón gần, bàn ngón tay, cổ tay. Có tính chất đối xứng.
Hạt dưới da. Yếu tố thấp dương tính. Xquang điển hình ở khối xương cổ tay (hình bào mòn, mất chất khoáng đầu xương). Thời gian diễn biến của bệnh ít nhất phải 6 tuần.
Chẩn đoán xác định khi có ít nhất 4 trong số 7 tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn ACR/EULAR 2010 Năm 2010, ACR và EULAR đưa ra bộ tiêu chuẩn mới ACR/EULAR 2010 nhằm chẩn đoán sớm VKDT để BN được điều trị cơ bản sớm sẽ đem lại nhiều lợi ích trong quá trình điều trị ,. Chẩn đoán viêm khớp dạng thấp theo ACR/EULAR 2010 Đối tượng đánh giá: Những BN có tối thiểu một khớp có biểu hiện viêm màng hoạt dịch trên lâm sàng. Không chứng minh được bệnh lý khớp khác gây ra tình trạng viêm màng hoạt dịch.
Chẩn đoán VKDT dựa vào tổng điểm theo các mục từ A đến D, tổng điểm ≥ 6/10 là đủ để chẩn đoán VKDT. Tổn thương khớp 1 khớp lớn 0 2 - 10 khớp lớn 1 1 - 3 khớp nhỏ (có hoặc không có tổn thương khớp lớn) 2 4 - 10 khớp nhỏ (có hoặc không có tổn thương khớp lớn) 3 > 10 khớp (ít nhất một khớp nhỏ) 5 B. Xét nghiệm huyết thanh (cần tối thiểu một xét nghiệm) RF và anti-CCP âm tính 0 RF hoặc anti-CCP dương tính thấp 2 RF hoặc anti-CCP dương tính cao 3 C. Chỉ số phản ứng pha cấp (cần tối thiểu một xét nghiệm) CRP và tốc độ lắng hồng cầu bình thường 0 9 CRP và tốc độ lắng hồng cầu bất thường 1 D.
Thời gian của các triệu chứng < 6 tuần 0 ≥ 6 tuần 1 * Nguồn: Aletaha D. Đánh giá mức độ hoạt động bệnh Trong thực hành lâm sàng điều trị VKDT thì đánh giá mức độ hoạt động bệnh của BN VKDT là một vấn đề quan trọng trong tiên lượng bệnh, là cơ sở để quyết định lựa chọn điều trị cho BN, đặc biệt là lựa chọn điều trị phù hợp với từng BN VKDT. Đánh giá mức độ hoạt động bệnh bằng các chỉ số kết hợp bắt đầu từ những năm 1950 , cho tới nay đã có 63 công cụ đánh giá mức độ hoạt động bệnh được hình thành. Các khuyến cáo đều sử dụng các chỉ số kết hợp, vừa sử dụng lâm sàng và các xét nghiệm để đánh giá mức độ hoạt động bệnh VKDT bao gồm chỉ số DAS , DAS28 , CDAI , SDAI.
Hiện nay, ACR và EULAR khuyến cáo sử dụng DAS28 để đánh giá mức độ hoạt động bệnh. Chỉ số đánh giá mức độ hoạt động bệnh DAS28 Công thức tính chỉ số DAS28 CRP (Disease Activity Score for 28 Joints C-Reactive Protein) và DAS28 ESR (Disease Activity Score for 28 Joints Erythrocyte Sedimentation Rate). DAS28 CRP = 0,56* (Số khớp đau) + 0,28* (Số khớp sưng) + 0,36*Ln(CRP+1) + 0,014*VAS + 0,96 DAS28 ESR = 0,56* (Số khớp đau) + 0,28* (Số khớp sưng) + 0,70*Ln(ESR) + 0,014*VAS Trong đó: VAS đánh giá của BN trên thang nhìn 100 mm. CRP: nồng độ CRP (mg/L), ESR: TĐML giờ đầu (mm/h).