ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư da là một loại ung thư phổ biến hiện nay và đang có chiều hướng gia tăng. Ở các nước phát triển như Mỹ, ung thư da là một trong những ung thư thường gặp nhất. Theo nghiên cứu Stern năm 2007, tỉ lệ mắc ung thư da cao gấp 5 lần ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến [48]. Theo nghiên cứu của tác giả Lomas A, ở Úc ung thư da có tỉ lệ phát sinh bệnh cao nhất được ghi nhận >1000/100000 người dân mắc ung thư tế bào đáy [39].
Ở Việt Nam, số bệnh nhân đến khám và điều trị ung thư da tại các bệnh viện ngày càng gia tăng, năm 2010 cao gấp 2,6 lần so với năm 2007 [8]. Ở các tỉnh phía Nam, ung thư da đứng hàng thứ 4 ở nam và thứ 5 ở nữ [20], riêng tại Cần Thơ, ung thư da đứng hàng thứ 7 trong 10 loại ung thư phổ biến nhất chung cho cả hai giới [21]. Năm 2004 tại Mỹ, tổng chi phí điều trị ung thư da loại không tế bào hắc tố tiêu tốn 1,5 triệu USD và tiêu tốn 2,36 triệu USD năm 2010 [32]. Điều này cho thấy ung thư da đặc biệt là ung thư da không tế bào hắc tố trở thành vấn đề sức khỏe toàn cầu và đáng được quan tâm.
Về tử suất, ung thư da tế bào hắc tố là loại ung thư gây tử vong đáng kể và đang trở thành gánh nặng cho nền y tế. Vào năm 2014, ung thư da là nguyên nhân tử vong của khoảng 9710 người do ung thư tế bào hắc tố và 3270 người do các loại ung thư da tế bào đáy và ung thư da tế bào gai [29]. Nguyên nhân do điều kiện khí hậu thay đổi, một số người phải làm việc trong môi trường tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm tăng nguy cơ bị ung thư da. Tuy vậy, những nghiên cứu về tình hình ung thư da hiện nay cũng như việc đánh giá hiệu quả điều trị còn hạn chế.
2 Chính vì vậy đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và đánh giá kết quả điều trị ung thƣ da tại Bệnh viện Ung Bƣớu Cần Thơ năm 2014-2015” được thực hiện với những mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học của ung thư da tại Bệnh viện Ung Bướu Cần Thơ năm 2014-2015. Đánh giá biến chứng và kết quả sớm điều trị phẫu thuật ung thư da tại Bệnh viện Ung Bướu Cần Thơ năm 2014-2015. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số đặc điểm về giải phẫu da 1.1 Mô học da Da là cơ quan lớn nhất của cơ thể, người trưởng thành da chiếm 2,3m2 diện tích bề mặt cơ thể tiếp xúc với môi trường bên ngoài.
Da đóng vai trò quan trọng như: bảo vệ cơ thể tránh khỏi hơi nóng, ánh sáng, thương tích, nhiễm trùng. Da được cấu tạo gồm 3 lớp chính: lớp biểu mô trên mặt gọi là biểu bì, lớp mô liên kết phía dưới gọi là lớp bì, lớp phía dưới chân bì là lớp mô liên kết thưa lỏng lẻo hơn gọi là hạ bì [6].1 Da và các bộ phận thuộc da [40].1 Biểu bì Biểu bì là loại mô lát tầng sừng hóa, dày từ 0,07-2,5mm được chia thành 5 lớp từ trong ra ngoài: lớp đáy, lớp sợi, lớp hạt, lớp bóng, lớp sừng.2 Các lớp mô học của da [40]. Bobonich (2015), Dermatology for Advanced Practice Clinicians first edition) Lớp đáy: được tạo thành bởi từng hàng tế bào hình khối vuông, trụ nằm trên nền đáy. Lớp tế bào này có khả năng sinh sản nên còn được gọi là lớp sinh sản.
Trong lớp đáy có những tế bào có khả năng tổng hợp melanin cho da. Lớp gai (lớp Manpighi): có 5-10 hàng tế bào lớn, hình đa diện, có nhân nằm giữa tế bào. Trong bào tương lớp đáy và lớp sợi có nhiều hạt sắc tố đen mà chúng thu nhận được do tế bào hắc tố tiết ra. 5 Lớp hạt: gồm 3-5 hàng tế bào, hình đa diện dẹt, bào tương chứa nhiều dạng keratohyalin, các hạt này có liên quan đến hiện tượng thoái hóa sừng của tế bào biểu bì.
Lớp bóng: lớp tế bào hình dẹt và dài hơn, ranh giới giữa chúng vẫn phân biệt rõ nhưng tất cả các bào quan và nhân đều biến mất. Lớp sừng: tế bào đã hóa thành những lá sừng mỏng, không nhân, trong bào tương có chứa nhiều keratin. Chiều dày của lớp sừng phụ thuộc từng vùng cơ thể [6].2 Lớp bì Lớp bì là mô liên kết xơ vững chắc, độ dày lớp này thay đổi tuỳ từng vùng, chân bì chia hai lớp nhưng ranh giới không rõ ràng. Lớp nhú: Là mô liên kết thưa có nhiều chỗ lồi về phía biểu bì gọi là nhú chân bì, những vùng phải chịu áp suất và cọ sát nhiều thì có nhiều nhú chân bì.
Lớp lưới: Là mô liên kết dày hơn lớp nhú, có ít tế bào nhưng nhiều sợi tạo keo dày, cả hai lớp trên đều có nhiều sợi chun làm cho da có độ chun giãn nhất định. Ngoài ra còn có mạch máu, mạch bạch huyết, sợi thần kinh và tận cùng thần kinh, các thành phần phụ thuộc: lông, tuyến bã, tuyến mồ hôi [6].3 Hạ bì Là mô liên kết nối chân bì với các cơ quan bên dưới, lớp này có thể có các tiểu thuỳ mỡ tạo thành một lớp dày hay mỏng tuỳ từng vùng của cơ thể.2 Chức năng của da Da là hệ cơ quan nặng nhất trong cơ thể, chiếm khoảng 16% tổng trọng lượng cơ thể. Lớp biểu bì phía ngoài của da hầu như không thấm nước, ngăn cản sự mất nước cơ thể qua hiện tượng bốc hơi. Sắc tố da melanin được tạo ra và tích trữ bên trong tế bào biểu bì, có vai trò bảo vệ chống lại tia cực tím.
Các tuyến của 6 da, các mạch máu và mô mỡ của da cùng tham gia vào hoạt động chuyển hóa và chế tiết các chất. Mô liên kết của da có mạng lưới mạch máu và mạch bạch huyết phong phú. Các động mạch nuôi dưỡng da tạo nên hai đám rối động mạch. Các nhánh nối động - tĩnh mạch và các cuộn mạch thường có ở da, tham gia vào việc điều hòa thân nhiệt.
Dưới tác động của tia sáng mặt trời, vitamin D3 được cơ thể tổng hợp qua các tiền chất. Do có tính chun giãn, da có thể trải rộng, bao phủ một diện tích lớn trong các trường hợp bị phù hay khi có thai. Da còn đảm nhận chức năng của một cơ quan thụ thể thông tin liên lạc với môi trường và bảo vệ cơ thể không bị tổn thương do va đập hay ma sát. Trong các chức năng trên, chức năng quan trọng nhất của da (nhờ có nhiều tận cùng thần kinh giao cảm tỏa rộng) là tiếp nhận các kích thích từ ngoài môi trường.
Da được ví như một cơ quan tiếp nhận cảm giác rộng lớn nhất của cơ thể [6].2 Bệnh học ung thƣ da 1.1 Dịch tễ học Ung thư da hay gặp ở miền xích đạo nơi có nhiều bức xạ tia cực tím. Nhìn một cách tổng thể, hầu hết các loại ung thư da liên quan trực tiếp đến màu da và sự phơi nhiễm dưới ánh nắng mặt trời. Ung thư da thường gặp nhất ở người da trắng trên 200/100000 dân, người da đen có tỉ lệ mắc ít nhất ở mức 10/100000, người da vàng có tỉ lệ mắc trung bình, riêng ở Việt Nam khoảng 2,9 - 4,5/100000 dân [11].2 Các yếu tố nguy cơ của ung thƣ da 1.1 Tia tử ngoại (UV) Có nhiều bằng chứng cho thấy tia tử ngoại gây ra một số lớn các trường hợp ung thư da. Ung thư da gặp ở những quần thể sống ở vùng có bức xạ mặt trời bao quanh và những người tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời do nghề nghiệp (ví dụ như nông dân).
Các yếu tố nguy cơ đã biết với ung thư da có 7 liên quan đến xu hướng tổn thương do tia tử ngoại từ ánh sáng mặt trời: màu da sáng, không rám nắng, xu hướng cháy nắng, tiền sử cháy nắng và hoặc phơi nhiễm tích lũy với tia tử ngoại. Các bằng chứng dịch tễ học đã thiết lập mối quan hệ nhân quả giữa phơi nhiễm với ánh nắng mặt trời và u hắc tố ác tính, đây có vẻ là hậu quả của sự cháy nắng cấp tính hơn là mãn tính [5].2 Màu da Nguy cơ cao ở những người da trắng hơn là những người da màu. Điều này là do tác dụng bảo vệ của sắc tố da [18].3 Tuổi Nguy cơ mắc ung thư da tế bào đáy và tế bào gai cao hơn ở những người lớn tuổi. Điều này là do việc phơi nhiễm dưới tia cực tím được tích lũy theo thời gian [18].4 Bệnh lý da sẵn có Tàn nhang có thể mang nhiều vết rám, tàn nhang có nguy cơ ung thư da cao.
Xơ da quang hóa thường ở người cao tuổi. Bệnh xuất hiện ở vùng da lộ sáng như đầu cổ, tay chân. Bệnh sắc tố: bạch tạng là do thiếu sắc tố melanin ở đồng tử, tóc. Nhiễm trùng: nhất là các nhiễm Human papilloma virus.
Viêm da mãn tính hoặc chấn thương da. Có tiền sử ung thư da [18]. Vấn đề sẹo bỏng có làm tăng nguy cơ ung thư hay không vẫn còn đang có nhiều nghiên cứu tìm hiểu, một nghiên cứu thực hiện ở Đan Mạch và Thuỵ Sĩ cho rằng sẹo bỏng chỉ tăng 1,2 lần tần suất xuất hiện ung thư da tế bào gai, 0,7 lần tần suất xuất hiện ung thư da tế bào đáy, 0,3 lần tần suất xuất hiện ung thư hắc tố [50]. 8 Ngoài ra còn có bệnh khô da sắc tố, là một bệnh thuộc nhóm bệnh hiếm, liên quan tới nhiễm sắc thể thường, được biểu hiện bởi da rất nhạy cảm với tia cực tím gây ra sự bất thường của da và có khuynh hướng thành ung thư rất cao, đặc biệt ở vùng da tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.5 Tiếp xúc với hóa chất gây ra ung thƣ Các hóa chất như arsenic, benzoa pyrene, nhựa đường, hắc ín, dầu khoáng bồ hóng, cyclosporin A có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư da [5].6 Tiền sử tiếp xúc với bức xạ ion hóa Trước kia dùng tia nông trên 10Gy cho các tổn thương lành tính như mụn trứng cá, sẹo lồi, u máu.
Tia gây teo da, mất sắc tố, giãn mạch, rụng lông và sừng hóa. Sau một thời gian tiềm tàng, 20% các bệnh nhân phát triển ung thư tế bào gai, tế bào đáy ở đầu cổ [18].7 Các hội chứng gia đình Bệnh xơ da nhiễm sắc: thương tổn trên da toàn thân, da dày xơ nhiều, vảy bong màu nâu, hoặc đỏ. Nguyên nhân là do sai lạc gen ngăn cản sự phục hồi tổn thương DNA do tia cực tím. Bệnh nhân hay mắc ung thư da trước 20 tuổi.