MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vẫn đề nghiên cứu Rối loạn cảm xúc là một loại rối loạn tâm thần có ảnh hỏng nghiêm trọng đến chất lợng cuộc sống của TC ngời. Ở lứa tuổi VTN, rối loạn cảm xúc nếu không đợc phát hiện và can thiệp kịp thời có thể trở nên tăng nặng, mãn tính, cản trở đến quá trình học tập, sự phát triển và ảnh hỏng đến chất lợng cuộc sống trong các giai đoạn tiếp theo của trẻ. Trên toàn cầu, trầm cảm là nguyên nhân gây ra nhiều khó khăn nhất cho vị thành niên từ 15-19 tuổi và nó là nguyên nhân thứ mời lăm gây ra khó khăn cho trẻ từ 10-14 tuổi [31].
Theo báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEE), tỷ lệ hiện nay mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần chung ở Việt Nam từ 8% đến 29% đối với trẻ em và vị thành niên, với những khác biệt tùy theo tỉnh, giới tính và đặc điểm của ngời trả lời [dẫn theo 11]. Một khảo sát dịch tễ học trên mẫu đại diện quốc gia của 10 trong số 63 tỉnh thành cho thấy mức trung bình các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em vào khoảng 12%, tơng đơng hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu về các địch vụ sức khỏe tâm thần (Weiss và cộng su, 2014) [41]. Các loại hình vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất trong trẻ em Việt Nam là các vấn đề về cảm xúc, hay các vấn đề hớng nội (ví dụ nh lo âu, trầm cảm, cô đơn) và các vấn đề hành vi, hay các vấn đề hớng ngoại (ví dụ nh tăng động, giảm chú ý). Nhìn chung, các nghiên cứu gần đây cho biết tỷ lệ trẻ em và vị thành niên gặp các vấn đề rối loạn cảm xúc, đặc biệt là vấn đề trầm cảm đang có xu hớng tăng lên rõ rệt.
Đã có nhiều phơng pháp can thiệp rối loạn cảm xúc và đặc biệt là can thiệp trầm cảm ở VTN có hiệu quả nh: liệu pháp nhân văn, liệu pháp nhận thức hành vi, liệu pháp chánh niệm. Tuy nhiên, tại Việt Nam, quy trình đánh giá, can thiệp và các bằng chứng liên quan đến hiệu quả can thiệp tram cảm cho trẻ VTN vẫn còn nhiều khoảng trống. Một nhu cầu cấp thiết đặt ra là: cần có thêm những bằng chứng khoa học và thực tiễn nhằm chứng minh tầm quan trọng của việc can thiệp và phòng ngừa sớm; tính hiệu quả của các liệu pháp tâm lý trong can thiệp các vấn đề rối loạn cảm xúc nói chung và rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên nói riêng. Chính vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài: -Can thiện tâm lý cho một trqong hop trẻ vị thành niên có rồi loạn cảm xúc| nhằm tìm hiểu và mô tả rõ hơn về những triệu chứng của rỗi loạn cảm xúc, cụ thể là rối loạn trầm cảm.
Từ đó, chứng minh tính hiệu quả của các kỹ thuật can thiệp tâm lý lâm sàng trên một trờng hợp trẻ VTN có vấn đề rối loạn trầm cảm. Nhiệm vụ nghiên cứu - Điểm luận một số nghiên cứu về rối loạn trầm cảm và can thiệp RL trầm cảm VTN. - Xác định các phơng pháp và công cụ đánh giá cho một trong hop RL trầm cảm VTN. - Trình bày một số khái niệm liên quan đến RL trầm cảm: khái niệm, triệu chứng, phân loại, các tiêu chuẩn chân đoán về RL trầm cảm VTN.
- Thực hiện đánh giá, định hình trờng hợp, lên kế hoạch và can thiệp cho một trờng hợp VTN có RL trằm cảm. - Đánh giá hiệu quả can thiệp và đa ra kết luận, khuyến nghị. Giới hạn phạm vỉ nghiên cứu Rối loạn cảm xúc là một nhóm các rối loạn khác nhau, bao gồm: rối loạn hng cảm, rối loạn trầm cảm, rối loạn lỡng cực. Trong đánh giá, chân đoán và trị liệu những rối loạn cảm xúc này cũng có nhiều lý thuyết và cách tiếp cận khác nhau.
Với khuôn khổ 01 luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tâm lý học lâm sàng theo định hớng ứng dụng, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu và trình bày một số khía cạnh cụ thể sau đây: - Loại rôi loạn cảm xúc: rôi loạn trâm cảm. - Khách thể nghiên cứu: 01 trẻ vị thành niên có rối loạn trầm cảm. - Liệu pháp can thiệp: Liệu pháp Thân chủ trọng tâm và liệu pháp can thiệp nhận thức, hành vi, trong đó Liệu pháp can thiệp nhận thức hành vi (CBT) là liệu pháp can thiệp chính. Chojong 1: CO SO LY LUAN VE VAN DE ROI LOAN TRAM CAM O TRE VI THANH NIEN 1.
Téng quan nghién ciru về vẫn đề rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên. Hầu hết các nghiên cứu có xu hớng đi tìm hiểu về tý lệ dịch tễ, nguyên nhân của rối loạn, tiêu chuân chẩn đoán cũng nh các kỹ thuật can thiệp đợc sử dụng có hiệu quả với rỗi loạn này. Ngoài ra, một số nghiên cứu còn đề cập đến việc xây dựng các chơng trình phòng ngừa và can thiệp cho vấn đề về RL trầm cảm ở trẻ VTN. Nghiên cứu ở nóc ngoài e Nghiên cứu dịch tế Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu dịch tễ về các vấn đề sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi VTN.
Đặc biệt, rối loạn trầm cảm đã đợc nghiên cứu khá sâu và cụ thê theo từng khu vực lãnh thổ, quốc gia hay giới tính. Kết quả của các cuộc khảo sát trực tiếp cộng đồng về tỷ lệ phổ biến của các vấn đế sức khỏe tâm thần đợc thực hiện ở 17 quốc gia tại Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ, Châu Âu và Trung Đông cho thấy rối loạn cảm xúc chiếm khoảng 3,3-21,4% [3 1]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, ớc tính có khoảng 264 triệu ngời có các triệu chứng trầm cảm điền hình, nghĩa là khoảng 3.4% dân số toàn cầu mắc bệnh này [43]. Vào năm 2017, ớc tính có khoảng 3,2 triệu thanh thiếu niên từ 12 đến 17 tuôi đã trải qua một giai đoạn trầm cảm nghiêm trọng.
TC số này đại điện cho 13,3% dân số Hoa Kỳ từ 12 đến 17 tuổi [44]. Theo nghiên cứu của Costello và cộng sự, trầm cảm ảnh hởng đến khoảng 3% đến §% trẻ VTN. Ngoài ra, trầm cảm khởi phát sớm sẽ làm tăng tỷ lệ tái phát ở tuổi trởng thành, khoảng 45% đến 72%, từ 3 đến 7 năm [32]. Những nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra sự khác biệt về giới khi mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần.
Một nghiên cứu cắt ngang đã đợc thực hiện tại Ấn Độ vào năm 2008. Kết quả nghiên cứu 1150 trẻ vị thành niên từ 12 đến 18 tuổi cho thấy tỷ lỆ phổ biến của các vấn đề về hành vi và cảm xúc ở các nhóm tuổi và giới tính là 30,4%, trong đó tỷ lệ mắc các vấn đề về hành vi/cảm xúc ở trẻ gái (33,7%) cao hơn so với trẻ trai (27,5%). Khi phân tích mô hình các van đề về cảm xúc và hành vi ở thanh thiếu niên, ngời ta thấy rằng rối loạn cảm xúc (chiếm 28,6%) là vấn đề phô biến nhat. Nam 2018, Dorcas Magai, Jamil Malik, Hans Koot str dung thang danh gia YSR (Young-Self Report) cho 533 trẻ VTN (độ tuổi 12 đến 18) sống ở tinh mién Trung Kenya da da ra kết quả nghiên cứu: trẻ gái mắc các vấn đề về tâm thần nhiều hơn trẻ trai, đặc biệt là về vấn đề rối loạn cam xtc [24].
Tỷ lệ mắc giai doan trầm cảm chính ở nữ VỊ thành niên cao hơn (20,0%) so với nam (6,8%) [44]. Theo khảo sát của National Comorbidity (NCS) thì tỷ lệ mắc trầm cảm trọn đời ở thanh thiếu niên từ 15 đến 18 tuổi là 14% và ớc tính 20% thanh thiếu niên sẽ bị rối loạn trầm cảm khi họ 18 tuổi [17]. Một nửa các đợt trầm cảm đầu tiên xảy ra trong tuổi thiếu niên, và trầm cảm khởi phát sớm có liên quan đến một đợt bệnh mãn tính, cấp tính [20]. Tuổi khởi phát không phải là yếu tố phân loại trầm cảm, dò vậy khởi phát sớm có liên quan đến nhiều yếu tố dự báo về gánh nặng bệnh tật ở tuôi trởng thành trên một loạt các lĩnh vực nh không kết hôn, suy giảm hoạt động xã hội và nghề nghiệp, giảm chất lợng cuộc sống, tỷ lệ các bệnh lý thé chat và tâm thần phối hợp nhiều hơn, các giai đoạn trầm cảm trong suốt cuộc đời, mu toan tự sát, và mức độ trầm trọng của triệu chứng cao hơn (Berndt và cộng sự, 2000) [19].
Những nghiên cứu về sự tái phát trầm cảm cho thấy 12% trẻ em sẽ tái phát trong vòng | năm, 40% trẻ sẽ tái phát trong vòng 2 năm và 75% trẻ sẽ tái phát trong vòng 5 năm. Giống nh trầm cảm ở tuổi trởng thành, trầm cảm ở tuổi vị thành niên thờng xuyên và kéo đài [32]. ® Nghiên cứu về nguyên nhân, yếu tố ảnh hgởng Nguyên nhân của rối loạn trầm cảm rất phức tạp và là sự kết hợp của nhiều yếu tố khác nhau. Khi xảy ra xung đột với gia đình hay với bạn đồng lứa, trẻ có thể sẽ cam thay bat an và lo lắng nhiều hơn.
Và rối loạn trầm cảm có xu hớng xảy ra ở một đứa trẻ đễ bị lo lắng hơn những đứa trẻ khác [18]. Theo Kessler và các cộng sự, các yếu tố có thé gây ra trầm cảm trong tuổi vị thành niên bao gồm: mong muốn tự chủ cao hơn, áp lực đề phò hợp với bạn còng lứa tuổi, khám phá bản sắc cá nhân, tăng khả năng tiếp cận và sử dụng công nghệ. Các yếu tố quyết định quan trọng khác bao gồm chất lợng cuộc sống gia đình và mối quan hệ với bạn đồng lứa [30]. Các tác giả Derubeis và Strunk thì cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rối loạn cảm xúc bao gồm: nguyên nhân môi trờng, di truyền, tính cách, nhận thức và sinh học thần kinh [23].
Ngoài ra, nghiên cứu của các tác giả Krishnan và Nestler (2010) cũng đã chỉ ra các yêu tố nguy cơ của trầm cảm bao gồm: sinh học (tiền sử gia đình có trầm cảm, giai đoạn tuổi day thi), ram Ly (tinh khí dễ xúc động, nhận thức tiêu cực, lòng tự trọng thấp và mất ngời thân), /gm dụng (bị lạm dụng, bỏ mặc, cha mẹ thiếu quan tâm) và xã hội (bị bắt nat) [33]. e Nghién citu vé cdc chqong trình phòng ngừa RL trầm cảm ở trẻ VTN Bên cạnh các liệu pháp can thiệp và trị liệu rối loạn trầm cảm ở VTN thì cũng đã có nhiều chơng trình phòng ngừa RL trầm cảm dành cho đối tợng này.