Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Khái niệm về tâm lý Khái niệm TL không phải đơn giản. Thực tế từ xa xưa đến nay con người đã tốn rất nhiều công sức để tìm hiểu khái niệm này.
Nói một cách khái quát, TL là tất cả các hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành vi và hoạt động của con người (9–12). Tâm lý của con người bao gồm 3 mặt: - Nhận thức: là các quá trình tâm lí giúp cho con người nhận biết được sự vật, hiện tượng, các mối quan hệ của những sự vật hiện tượng đó. Nhận thức gồm 2 nhóm chính là nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác) và nhận thức lí tính (chủ yếu là tư duy). - Đời sống tình cảm: nếu như các quá trình nhận thức đem lại cho con người hiểu biết về thế giới khách quan thì đời sống tình cảm lại thể hiện mối quan hệ của chủ thể đối với các sự vật hiện tượng.
Tuy nhiên không phải đối với mọi sự vật hiện tượng mà chỉ là đối với những sự vật hiện tượng có liên quan đến sự thoả mãn nhu cầu của chủ thể mà thôi. Gọi nó là đời sống hay lĩnh vực bởi nó mang tính tổng thể (một cách tương đối) và bởi vì trong thành phần của nó có nhiều các thành tố khác nhau, trải dài từ những màu sắc cảm xúc của cảm giác cho đến tình cảm. Ngay trong lĩnh vực này, sự tách biệt đâu là quá trình, đâu là trạng thái, thuộc tính cũng chỉ mang tính tương đối. - Ý chí: là mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn.
Ý chí là hình thức tâm lí điều chỉnh hành vi tích cực nhất ở con người. Nhờ có ý chí, con người chuyển được từ nhận thức và rung động sang hoạt động thực tiễn. Ý chí luôn đi kèm với hành động do vậy lĩnh vực này còn được gọi là hành động ý chí (11), (13–17). Khái niệm về nhu cầu và đáp ứng nhu cầu Trong ngôn ngữ hàng ngày, thuật ngữ “nhu cầu” được sử dụng để chỉ các thuộc tính hoặc kết quả mong muốn cụ thể.
Trẻ em có thể nói rằng chúng cần một món đồ chơi, thanh thiếu niên có thể nói chúng cần một chiết điện thoại thông minh để kết nối tốt hơn với bạn bè… Trong mỗi trường hợp này, thuật ngữ “nhu cầu” biểu thị sự hiện diện của một mong muốn hoặc sở thích cụ thể, thường bắt nguồn từ sự thâm hụt hoặc thiếu hụt của mỗi người. Những mong muốn hoặc sở thích đó khác nhau giữa các cá nhân (18–20). Theo Ryan and Deci (2017), thuật ngữ nhu cầu TL được định nghĩa theo một cách cụ thể và hẹp hơn, như một chất dinh dưỡng TL cần thiết cho sự điều chỉnh, tính toàn vẹn và tăng trưởng của mỗi cá nhân. Trong khuôn khổ học thuyết này, một mong muốn cụ thể chỉ có thể được gán cho tình trạng cụ thể của một nhu cầu TL cơ bản khi sự thỏa mãn của nó không chỉ có lợi mà còn cần thiết cho hạnh phúc của mỗi cá nhân, trong khi sự thất vọng của nó làm tăng nguy cơ thụ động, kém cỏi, và khả năng thu người lại.
Rõ ràng, không phải tất cả các động cơ hoặc mong muốn đều phù hợp với định nghĩa hẹp hơn này. Ví dụ: việc mua sắm vật chất không nhất thiết làm tăng phúc lợi, ngay cả khi họ rất mong muốn. Deci và Ryan cũng xác định các nhu cầu về quyền tự chủ, năng lực và sự liên quan là những nhu cầu TL cơ bản; Sự thỏa mãn những nhu cầu này là nguyên nhân dẫn tới nhiều hiện tượng qua các thời kỳ phát triển, tạo ra sự khác biệt giữa các tính cách. Các nhu cầu TL cơ bản được định nghĩa một cách rộng rãi là các nguồn lực quan trọng làm cơ sở cho khuynh hướng phát triển tự nhiên của cá nhân nhằm hướng tới việc tăng cường khả năng tự tổ chức, điều chỉnh và phát triển.
Các nghiên cứu về nhu cầu TL có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển, điều chỉnh và SK của mỗi cá nhân cũng như cộng đồng. Nó được áp dụng trong thực tiễn cũng như đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nền tảng khoa học cho việc hoạch định các chính sách XH (17,18,20,21). Các nội dung liên quan đến mục tiêu nghiên cứu 1. Hỗ trợ tâm lý Theo định nghĩa của Hội chữ thập đỏ - Trăng Lưỡi liềm đỏ (the Red Cross - Red Crescent) và Liên Hợp quốc, hỗ trợ TL được mô tả là bất kỳ hoạt động hoặc 6 biện pháp nhằm cải thiện hoạt động sống của một người dưới mức độ căng thẳng bất thường được quan sát thấy trong bối cảnh nhất định.
Hỗ trợ TL sớm và đầy đủ có thể ngăn chặn sự đau khổ cũng như ngăn chặn điều gì đó nghiêm trọng hơn do đau khổ tạo thành và sẽ giúp những người bị ảnh hưởng đối phó tốt hơn và nhanh chóng trở lại cuộc sống bình thường. Hỗ trợ TL nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của những người dễ tổn thương bằng cách huy động sức mạnh của con người, cố gắng giúp mọi người thoát khỏi cảm giác mất mát và làm lại cuộc sống của họ (22– 25). Hỗ trợ TL vừa có tác dụng phòng bệnh lại vừa có tác dụng chữa bệnh. Tác dụng phòng ngừa của hỗ trợ TL nằm ở chỗ nó làm giảm nguy cơ phát triển của các vấn đề SK tâm thần.
Tác dụng điều trị của nó là khi hỗ trợ TL giúp cá nhân và cộng đồng vượt qua và đối phó với các vấn đề TL phát sinh trong cuộc sống. Hai khía cạnh này của hỗ trợ TL góp phần xây dựng khả năng phục hồi cho người bệnh khi đối mặt với những khủng hoảng và hoàn cảnh sống khó khăn khác. Cũng theo Hội chữ thập đỏ - Trăng Lưỡi liềm đỏ, những người hỗ trợ TL về cơ bản phải có kỹ năng (thông qua quá trình được đào tạo tốt), có khả năng thể hiện sự quan tâm, sẵn sàng và quan tâm giúp đỡ những người có nhu cầu hỗ trợ. Theo tác giả Trần Thị Minh Đức đã nêu ra trong Giáo trình tham vấn TL vào năm 2011 thì “Hỗ trợ TL là một hoạt động (một công việc) giúp đỡ cho người đang có khó khăn TL để họ thực hiện được điều họ mong muốn trong cuộc sống.
Bao hàm những công việc của người giúp đỡ không chuyên – tất cả mọi người, và công việc giúp đỡ của những người chuyên nghiệp – công việc của các nhà TL học, nhà tham vấn, nhân viên công tác XH, bác sĩ tâm thần, nhà giáo dục…” Theo tác giả Trần Thùy Dương và cộng sự đã đưa ra khái niệm “hỗ trợ TL” trong bệnh viện “là quá trình tương tác giữa nhà TL, nhân viên công tác XH với BN nhằm khơi dậy tiềm năng, nội lực của bản thân để họ giải quyết được những vấn đề TL của mình, nâng cao hiệu quả của quá trình điều trị” (13,27,28). Ý nghĩa của hỗ trợ tâm lý: - Ngăn ngừa sự đau khổ và những diễn biến nghiêm trọng hơn do cảm giác đau khổ mang lại (như tư tưởng tự hủy hoại bản thân và XH…). 7 - Giúp mọi người đối phó tốt hơn và trở nên hòa hợp với cuộc sống hàng ngày - Giúp những người thụ hưởng trở lại cuộc sống bình thường của họ. - Đáp ứng nhu cầu nhất định do cộng đồng xác định (22,24,27).
Với những BN mắc bệnh mãn tính, hỗ trợ TL làm giảm đáng kể căng thẳng, phát triển các kỹ năng tự lực và sự tự tin. Từ những khái niệm “hỗ trợ TL” nói trên, chúng tôi lựa chọn khái niệm “Hỗ trợ TL” theo tác giả Trần Thị Minh Đức: “Hỗ trợ TL là một hoạt động (một công việc) giúp đỡ cho người đang có khó khăn TL để họ thực hiện được điều họ mong muốn trong cuộc sống. Bao hàm những công việc của người giúp đỡ không chuyên – tất cả mọi người, và công việc giúp đỡ của những người chuyên nghiệp – công việc của các nhà TL học, nhà tham vấn, nhân viên công tác XH, bác sĩ tâm thần, nhà giáo dục…”. Đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý Càng ngày các nhu cầu TL của người bệnh càng được quan tâm.
Nhằm đáp ứng nhu cầu này, có nhiều chính sách, hướng dẫn thực hành cũng như chương trình giáo dục- đào tạo được triển khai. Năm 2011, Chiến lược “Không có SK tâm thần - Không có SK” (No Health Without Mental Health) được Chính phủ Anh đề ra với mục đích đặt SK thể chất và SK tinh thần ngang nhau. Hướng dẫn thực hành của nó cũng xác định sự cần thiết phải giải quyết các nhu cầu TL liên quan tới điều kiện vật chất để đạt được kết quả thành công và bền vững (28). Nhiều hướng dẫn của Viện SK và lâm sàng quốc gia (Anh) cũng đã xác định vai trò của các dịch vụ hỗ trợ TL đối với người bệnh(29–31).
Theo Thomas Currid, cần có những chính sách của nhà nước cũng như cần những chuyên gia phải làm việc cùng nhau để giải quyết nhu cầu TL của người bệnh. Ngoài ra, trong quá trình CS BN, các cán bộ y tế tiếp xúc trực tiếp với BN cần có kiến thức, kỹ năng và năng lực để đáp ứng nhu cầu CS toàn diện cho BN. Bước đầu tiên, các NVYT đặc biệt là điều dưỡng/ y tá cần được hỗ trợ, giám sát và đào tạo về các rối loạn TL/ tâm thần ở BN; phát triển các kỹ năng để phát hiện những khó khăn TL mà người bệnh phải trải qua cũng như và nhu cầu hỗ trợ của họ (31). 8 Melanie Jane Legg cho rằng điều dưỡng/ Y tá đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu hỗ trợ TL XH của BN ung thư do Y tá/ điều dưỡng là người gần gũi nhất với người bệnh nhất.
Chính vì vậy họ có cơ hội theo dõi TL và nhu cầu TL của BN, đồng thời là đối tượng mà người bệnh cần tìm kiếm thông tin CS và tình cảm tiếp cận đầu tiên. Tuy nhiên, để làm được việc này, Y tá/ điều dưỡng cần được đào tạo bài bản (32). Theo WHO, chính sách và luật pháp là nền tảng nhằm thúc đẩy quyền của người khuyết tật về TL XH, trí tuệ và nhận thức; đồng thời là nền tảng để đưa ra các dịch vụ hỗ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu của họ, thức đẩy họ phục hồi.