ĐẶT VẤN ĐỀ Tâm thần phân liệt (TTPL) là một rối loạn tâm thần đặc trưng bởi sự suy giảm quá trình suy nghĩ và thiếu hụt các đáp ứng cảm xúc điển hình [10]. Các triệu chứng thường gặp bao gồm ảo giác, nghe thấy tiếng động hay giọng nói đến từ tâm trí, biến nó thành những cảm xúc tiêu cực và tích cực dẫn đến phản ứng hành vi không rõ ràng của bệnh nhân, thỉnh thoảng còn xuất hiện các thái độ như: căm ghét, thù hận những người thân, gia đình và xã hội [5]. Tỷ lệ bệnh tâm thần phân liệt là 1% dân số [11]. Tỷ lệ này giống nhau ở các quốc gia, không phụ thuộc vào vị trí địa lý, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội; Nhóm tuổi có tỷ lệ khởi phát cao nhất ở nam là 20-28, ở nữ là 26-32 [10].
Bệnh gây nguy hiểm cho bản thân người bệnh và những người xung quanh. Đồng thời bệnh nhân cũng là gánh nặng của gia đình và xã hội do mất khả năng học tập lao động, không thể tự nuôi sống và chăm sóc bản thân. Các phương pháp điều trị bệnh tâm thần phân liệt hiện nay bao gồm: liệu pháp hóa dược, liệu pháp tâm lý, sốc điện, kích thích từ xuyên sọ, liệu pháp lao động và phục hồi chức năng, vật lý trị liệu, quản lý theo dõi điều trị tại cộng đồng [20]. Hiện nay, liệu pháp hóa dược sử dụng các thuốc chống loạn thần điều trị TTPL vẫn là liệu pháp điều trị chính.
Tuy nhiên việc sử dụng các thuốc chống loạn thần thường xuất hiện rất nhiều các tác dụng không mong muốn như kháng cholinergic, kháng adrenergic, tác dụng trên chuyển hóa, tim mạch, … [51]. Trong hầu hết các hướng dẫn điều trị TTPL trên thế giới việc sử dụng đơn trị liệu các thuốc chống loạn thần được ưu tiên hàng đầu, phối hợp các thuốc chống loạn thần không được khuyến cáo và có rất ít các bằng chứng lâm sàng về lợi ích của phối hợp thuốc [7]. Mặc dù vậy, việc phối hợp thuốc ngày càng gia tăng, làm tăng nguy cơ xảy ra tương tác, tăng nguy cơ gây ra các tác dụng không mong muốn, tăng chi phí điều trị và giảm tuân thủ do bệnh nhân phải sử nhiều thuốc, kéo dài thời gian điều trị. Tại bệnh viện Sức khỏe Tâm Thần Thái Nguyên, việc điều trị bệnh vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của bác sĩ.
Dẫn đến xảy ra nhiều bất cập đã nêu ở trên. 1 Nhằm nâng cao chất lượng điều trị, tạo điều kiện cho hội đồng thuốc và điều trị, các Bác sĩ có thêm thông tin về thuốc điều trị, đồng thời góp phần xây dựng Phác đồ điều trị bệnh TTPL cho bệnh viện Sức khỏe Tâm Thần Thái Nguyên. Từ đó đảm bảo sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn, hợp lý. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại bệnh viện Sức Khỏe Tâm Thần Thái Nguyên”.
Với 2 mục tiêu: 1. Khảo sát đặc điểm bệnh nhân và đặc điểm sử dụng thuốc trên bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại bệnh viện Sức Khỏe Tâm Thần Thái Nguyên. Phân tích việc sử dụng thuốc chống loạn thần trong điều trị tâm thần phân liệt của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Sức Khỏe Tâm Thần Thái Nguyên. TỔNG QUAN VỀ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT VÀ ĐIỀU TRỊ 1.
Bệnh tâm thần phân liệt 1. Định nghĩa Tâm thần phân liệt (TTPL) là bệnh loạn thần nặng tiến triển, có khuynh hướng mạn tính, làm cho người bệnh dần dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong, tình cảm trở nên khô lạnh, khả năng làm việc, học tập ngày càng sút kém, có những hành vi, ý nghĩ kỳ dị, khó hiểu [4] [5]. Dịch tễ học Trên thế giới bệnh TTPL khá phổ biến, tỷ lệ mắc từ 0. Bệnh thường bắt đầu ở tuổi 15-35 (50% trước tuổi 25),hiếm gặp trước tuổi 10 và sau tuổi 40.
Tỷ lệ này giống nhau ở các quốc gia, không phụ thuộc vào vị trí địa lý, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội .Tỷ lệ bệnh giống nhau ở nam và nữ, tuổi mắc bệnh ở nam sớm hơn ở nữ [26] [10]. Ở Việt Nam Tỷ lệ TTPL 0,52-0,61%, mới mắc 0,29-0,56% dân số. Xác suất mắc TTPL 1,26-1,43%. Tỷ lệ bệnh nhân nam/nữ 0,77-2,3.
Ở tuổi 15-54, nam 45,04%, nữ 36,64%. Tuổi trên 55, nam 6,78%, nữ 10,69%. 85-95% bệnh khởi phát ở tuổi 15-44. Nam phát bệnh ở tuổi trung bình 20-25, nữ phát bệnh tuổi trung bình 25-30.
Số Bệnh nhân hay tái phát và tiến triển bán và mạn tính chiếm 91-97% [15]. Phân loại Theo ICD-10 các thể TTPL được phân loại như sau [53]: * Tâm thần phân liệt thể Paranoid (F20.0) Đây là thể bệnh TTPL thường gặp nhất ở đa số các nơi trên thế giới. Chiếm ưu thế trong bệnh cảnh thường là các hoang tưởng tương đối ổn định, thường có ảo giác kèm theo, đặc biệt ảo giác thính giác và rối loạn tri giác. Các rối loạn về cảm xúc, ý chí, ngôn ngữ và các triệu chứng căng trương lực không nổi bật.
* Tâm thần phân liệt thể thanh xuân (F20.1) Trong thể này, các biến đổi cảm xúc nổi bật lên, các hoang tưởng và ảo giác thoáng qua và rời rạc, tác phong vô trách nhiệm và không lường trước, thường có 3 tính điệu bộ. Cảm xúc hời hợt, không thích hợp và thường kèm theo cười khúc khích hay tự mãn, mỉm cười một mình hoặc kiểu cách, cau có, điệu bộ chơi khăm, than phiền nghi bệnh và những câu lặp lại. Tư duy lộn xộn, lời nói rông dài và rời rạc. Có khuynh hướng sống cô độc, hành vi như thiếu mục đích và thiếu cảm xúc.
Thể bệnh TTPL này thường bắt đầu giữa các tuổi 15 và 25 và có khuynh hướng tiên lượng xấu, do các triệu chứng âm tính tiến triển nhanh, đặc biệt cảm xúc cùn mòn và mất ý chí. * Tâm thần phân liệt thể căng trương lực (F20.2) Các rối loạn tâm lý vận động nổi bật lên là nét chủ yếu và chiếm ưu thế và các cực của rối loạn có thể thay nhau như tăng động và sững sờ, hoặc vâng lời tự động và phủ định. Các dáng điệu và tư thế không tự nhiên có thể duy trì trong thời gian dài. Các giai đoạn kích động dữ dội có thể là nét đặc trưng của bệnh.
* Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3) Thể này bao gồm các trạng thái đáp ứng các tiêu chuẩn chung cho chẩn đoán bệnh TTPL, nhưng không tương ứng với bất cứ thể nào đã mô tả ở trên (F20.2), hoặc biểu hiện đồng thời những tiêu chuẩn của nhiều thể mà không có một nhóm các nét đặc trưng cho chẩn đoán nào chiếm ưu thế rõ rệt. Thể này chỉ được dùng cho các trạng thái loạn thần (loại trừ TTPL di chứng F20.5 và trầm cảm sau phân liệt, F20.4) và sau khi đã cố gắng sắp xếp vào một trong ba thể phân liệt mô tả ở trên nhưng không được. * Tâm thần phân liệt thể trầm cảm sau phân liệt (F20.4) Một giai đoạn trầm cảm, có thể kéo dài, xuất hiện như hậu quả của một bệnh TTPL. Một số triệu chứng phân liệt vẫn còn phải tồn tại nhưng không còn chiếm ưu thế trong bệnh cảnh.
Các triệu chứng phân liệt kéo dài có thể là “dương tính” hay “âm tính” mặc dù các triệu chứng âm tính thường gặp hơn. Hội chứng trầm cảm ở đây không trầm trọng và mở rộng đến mức đáp ứng tiêu chuẩn một giai đoạn trầm cảm trong rối loạn cảm xúc. * Tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5) Một giai đoạn mạn tính trong tiến triển bệnh TTPL. Các triệu chứng dương tính mờ nhạt và không còn ảnh hưởng đến cảm xúc hay hành vi của bệnh nhân nữa.
4 Triệu chứng âm tính nổi bật lên như cảm xúc cùn mòn, ngôn ngữ nghèo nàn, kém chăm sóc bản thân và hoạt động xã hội. * Tâm thần phân liệt thể đơn thuần (F20.6) Một trạng thái không thường gặp với tác phong kỳ dị phát triển âm thầm nhưng tăng dần với mất khả năng đáp ứng các yêu cầu xã hội và sự sút kém trong tất cả các việc làm; hoang tưởng và ảo giác không rõ ràng và các biểu hiện loạn thần không rõ bằng các thể thanh xuân, Paranoid và căng trương lực của bệnh TTPL. Có các nét đặc trưng âm tính của TTPL thể di chứng (thí dụ như cảm xúc cùn mòn, ý chí giảm sút. Tiếp xúc xã hội ngày càng nghèo nàn, đối tượng trở thành sống lang thang, thu mình lại, ăn không ngồi rồi, và sống không mục đích.
* Các thể tâm thần phân liệt khác (F20.8) Bao gồm: TTPL thể loạn cảm giác bản thể, rối loạn dạng phân liệt không xếp cách khác. Loại trừ: Rối loạn giống phân liệt cấp (F23.2), TTPL chu kỳ (F25.2), TTPL tiềm tàng (F23. Cơ chế bệnh sinh Cơ chế bệnh sinh của TTPL rất phức tạp và chưa được sáng tỏ. Do nguyên nhân gây ra bệnh TTPL vẫn chưa được xác định rõ ràng.
TTPL vẫn được xếp vào nhóm các bệnh nội sinh trong đó có vai trò của rất nhiều yếu tố: di truyền, miễn dịch, nhiễm độc.… Có nhiều giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của TTPL như sau: * Giả thuyết về chất dẫn truyền thần kinh Nhiều nghiên cứu gần đây đều cho rằng rối loạn chuyển hoá dopamin đóng vai trò chính trong bệnh sinh bệnh TTPL [18]. Tăng hoạt động của dopamine ở não gây ra bệnh TTPL [27]. Giả thuyết này cho rằng nguyên nhân gây ra bệnh TTPL có thể nằm ở thụ thể D2 [24]. Tuy nhiên, đã có nhiều cuộc tranh luận liên quan đến vai trò của các vị trí thụ thể dopamine trong nguyên nhân gây ra bệnh TTPL, do các thuốc chống loạn thần không điển hình có hiệu quả điều trị tốt như Clozapin, ưu tiên ức chế thụ D4 so với thụ thể dopamin D2 [52].
5 Một giả thuyết nữa cho rằng, ngoài rối loạn chuyển hoá dopamin, bệnh sinh của TTPL còn liên quan đến có thể liên quan đến rối loạn chức năng dẫn truyền glutamate, serotonin, acetylcholine và axit gamma-aminobutyric [54]. * Giả thuyết về di truyền Các nghiên cứu về gia đình, các cặp sinh đôi và con nuôi đã chứng minh có mối liên quan rõ ràng của gen di truyền với bệnh sinh của TTPL [39]. Nếu bố hoặc mẹ bị TTPL thì khả năng con bị bệnh là 12%, trường hợp cả bố và mẹ bị bệnh thì tỷ lệ này là 40% [23]. Anh em sinh đôi cùng trứng nếu một người bị TTPL thì khả năng người kia bị bệnh là 47%, nếu sinh đôi khác trứng thì tỷ lệ này là 16,4% [41].