Tổng quan luận án

Công trình "Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và kết quả tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống" do nghiên cứu sinh Lê Trung Hiếu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Quang Nghĩa và TS.BS Lê Văn Thành, bảo vệ năm 2023 tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108, thuộc chuyên ngành Ngoại khoa/Ngoại Tiêu hóa (Mã số: 9720104).

Ghép gan là phẫu thuật thay thế gan bệnh lý giai đoạn cuối bằng gan lành mạnh từ người hiến chết não hoặc người hiến sống. Trong phẫu thuật ghép gan, khâu cơ bản và quan trọng nhất là tạo hình và tái tạo lưu thông các mạch máu bao gồm: tĩnh mạch gan, tĩnh mạch cửa và động mạch gan. Kỹ thuật khâu nối mạch máu quyết định trực tiếp đến tình trạng tưới máu của mảnh ghép, ảnh hưởng đến khả năng sống còn của tạng ghép và người nhận. Việc sử dụng mảnh ghép gan phải từ người hiến sống giúp giải quyết hội chứng mảnh ghép gan nhỏ ở bệnh nhân người lớn nhưng đặt ra nhiều thách thức kỹ thuật do sự đa dạng của các biến thể giải phẫu hệ mạch máu.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Tại Việt Nam, kể từ ca ghép gan từ người hiến sống đầu tiên vào năm 2004 và ghép gan phải ở người lớn năm 2007, số lượng ca phẫu thuật tăng dần qua từng năm. Tuy nhiên, các công trình trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào kết quả chung của phẫu thuật ghép gan mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu đánh giá toàn diện các đặc điểm kỹ thuật khâu nối, tạo hình mạch máu cũng như các yếu tố nguy cơ liên quan đến biến chứng mạch máu mảnh ghép.

Luận án xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống.
  2. Đánh giá kết quả tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống và một số yếu tố liên quan.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Các bệnh nhân được thực hiện phẫu thuật ghép gan phải từ người hiến sống tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, được chẩn đoán và điều trị theo quy trình chuẩn của chuyên ngành Ngoại Tiêu hóa và Ghép tạng.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử ghép gan thế giới ghi nhận trường hợp đầu tiên do Thomas E. Starzl thực hiện vào tháng 3/1963 tại Đại học Colorado (Denver) cho bệnh nhi teo đường mật bẩm sinh. Đến tháng 5/1996, Bệnh viện Queen Mary (Hồng Kông) tiến hành ca ghép gan phải từ người hiến sống trên người lớn đầu tiên trên thế giới. Kỹ thuật này sau đó được phát triển mạnh mẽ tại các trung tâm lớn như Bệnh viện Asan (Hàn Quốc, năm 1997), Bệnh viện Đại học Kyoto (Nhật Bản, năm 1998) và nhóm Essen (Châu Âu, năm 1998).

Các nghiên cứu quốc tế đã ghi nhận nhiều khía cạnh kỹ thuật và kết quả mạch máu:

  • Rather và cộng sự ghi nhận tỷ lệ biến chứng mạch máu trong 5 năm đầu triển khai chương trình ghép gan là 16,1%.
  • Piardi và cộng sự (2016) tổng kết tỷ lệ biến chứng mạch máu chung trong ghép gan từ người hiến sống trên thế giới là 13%, bao gồm hẹp, tắc và chảy máu miệng nối.
  • Pamecha và cộng sự nghiên cứu trên 315 bệnh nhân ghép gan phải, so sánh nhóm có 1 miệng nối tĩnh mạch gan duy nhất (207 bệnh nhân) với nhóm có 2 miệng nối tĩnh mạch gan (108 bệnh nhân), cho thấy nhóm 1 miệng nối có thời gian thiếu máu ấm (27 phút so với 45 phút, p < 0,001), thời gian không gan (132 phút so với 159 phút, p < 0,001) và thời gian mổ ngắn hơn, đồng thời tỷ lệ hồi phục chức năng gan tốt hơn.
  • Tan và cộng sự nghiên cứu 50 trường hợp ghép gan phải, ghi nhận tỷ lệ biến chứng mạch máu là 22% (12 trường hợp), đồng thời xác lập tiêu chí tạo hình các nhánh tĩnh mạch gan giữa phân thùy 5, 8 có đường kính từ 5 mm trở lên.
  • Astarcıoglu và cộng sự khảo sát 607 ca ghép gan, ghi nhận tỷ lệ biến chứng mạch máu ở nhóm người lớn là 3,3% và nhóm trẻ em là 11,4% (p = 0,007), biến chứng động mạch gan chiếm 2,1% và biến chứng tĩnh mạch cửa chiếm 1,5%.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống hóa các biến thể giải phẫu mạch máu của người hiến và người nhận, phân tích chi tiết các giải pháp kỹ thuật tạo hình tại bàn rửa gan và kỹ thuật khâu nối mạch máu trong ổ bụng, từ đó đánh giá kết quả sớm, kết quả xa và xác định các yếu tố liên quan đến biến chứng mạch máu sau ghép gan phải tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các bảng phân loại giải phẫu ứng dụng

Luận án dựa trên nền tảng giải phẫu phân chia gan chức năng theo Couinaud (8 phân thùy) và phân chia cuống Glisson theo Tôn Thất Tùng (1963). Các hệ thống phân loại mạch máu được ứng dụng trong đánh giá và xử trí kỹ thuật bao gồm:

  1. Biến đổi giải phẫu động mạch gan theo Varotti:

    • Dạng 1: Động mạch gan phải và trái xuất phát từ động mạch gan riêng (chiếm đa số, khoảng 75%).
    • Dạng 5: Động mạch gan riêng xuất phát từ động mạch mạc treo tràng trên.
    • Dạng 6: Động mạch gan riêng xuất phát từ động mạch chủ bụng.
  2. Biến đổi giải phẫu tĩnh mạch cửa theo Torres và Varotti:

Phân loại Torres Phân loại Varotti Đặc điểm giải phẫu Tỷ lệ theo Torres
Dạng A Dạng 1 Thân chung chia nhánh tĩnh mạch cửa phải và trái bình thường 92,5%
Dạng B Dạng 2 Tĩnh mạch cửa chia ba (trifurcation) tại rốn gan 2,5%
Dạng C Dạng 3 Tĩnh mạch cửa phân thùy trước tách từ tĩnh mạch cửa trái ngoài gan 2,5%
Dạng D Dạng 3 Tĩnh mạch cửa phân thùy trước tách từ tĩnh mạch cửa trái trong gan 1,7%
Dạng E Không phân loại Không có sự phân chia thân tĩnh mạch cửa riêng cho 2 nửa gan 0,8%
  1. Biến đổi giải phẫu tĩnh mạch gan theo Varotti: Phân loại dựa trên sự hiện diện của tĩnh mạch hạ phân thùy 5 (V5), hạ phân thùy 8 (V8) và tĩnh mạch gan phải phụ (IRHV):

    • Dạng 1: Không có tĩnh mạch V5 và V8; chia thành 1a (không có IRHV, 13,8%) và 1b (có IRHV, 7,7%).
    • Dạng 2: Có tĩnh mạch V5; chia thành 2a (không có IRHV, 20,0%) và 2b (có IRHV, 9,2%).
    • Dạng 3: Có tĩnh mạch V8; chia thành 3a (không có IRHV, 16,9%) và 3b (có IRHV, 18,5%).
    • Dạng 4: Có cả tĩnh mạch V5 và V8; chia thành 4a (không có IRHV, 10,8%) và 4b (có IRHV, 3,1%).
  2. Phân loại huyết khối tĩnh mạch cửa theo Yerdel:

    • Độ I: Huyết khối chiếm < 50% lòng mạch tĩnh mạch cửa chính, lan tối thiểu hoặc không lan vào tĩnh mạch mạc treo tràng trên.
    • Độ II: Huyết khối > 50% lòng mạch hoặc tắc hoàn toàn tĩnh mạch cửa chính, lan tối thiểu hoặc không lan vào tĩnh mạch mạc treo tràng trên.
    • Độ III: Tắc hoàn toàn tĩnh mạch cửa chính, huyết khối lan đến phần gần và một phần nhánh xa của tĩnh mạch mạc treo tràng trên.
    • Độ IV: Tắc hoàn toàn tĩnh mạch cửa chính và toàn bộ các nhánh của tĩnh mạch mạc treo tràng trên.
  3. Tiêu chuẩn thể tích và nhiễm mỡ gan:

    • Tỷ lệ GRBWR (Graft-to-Recipient Body Weight Ratio) tối thiểu từ 0,6% - 0,8%.
    • Thể tích gan còn lại của người hiến (RLV/SLV) tối thiểu từ 30% - 40%.
    • Phân độ nhiễm mỡ gan trên cộng hưởng từ: Độ 0 (< 5%), Độ 1 (5% - 33%), Độ 2 (33% - 66%), Độ 3 (> 66%). Ngưỡng an toàn cho người hiến gan phải là tỷ lệ nhiễm mỡ < 30%.
  4. Tiêu chuẩn chỉ định ghép gan:

    • Suy gan cấp: Tiêu chuẩn King's College (dựa trên pH máu < 7,3; INR > 6,5; creatinin > 3,4 mg/dL; bilirubin > 17,5 mg/dL; bệnh não gan độ III - IV).
    • Xơ gan mất bù: Thang điểm Child-Pugh (A: 5-6 điểm, B: 7-9 điểm, C: 10-15 điểm), điểm MELD ≥ 15, mô hình tiên lượng Mayo Clinic cho xơ gan tắc mật.
    • Ung thư biểu mô tế bào gan: Tiêu chuẩn Milan (1 u ≤ 5 cm hoặc ≤ 3 u với mỗi u ≤ 3 cm), tiêu chuẩn UCSF.

Phương pháp nghiên cứu và trang thiết bị

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc có can thiệp ngoại khoa.
  • Phương tiện và thiết bị phục vụ nghiên cứu:
    • Máy chụp cắt lớp vi tính 320 dãy Aquilion One thực hiện protocol chụp 4 thì (trước tiêm, thì động mạch 30-35 giây, thì tĩnh mạch 60 giây, thì muộn 3 phút; độ dày lát cắt trước tiêm 8-10 mm, sau tiêm 5-8 mm) để dựng hình mạch máu và đo thể tích gan.
    • Máy siêu âm Doppler mạch máu Aloka 4000 đánh giá huyết động học trong mổ và theo dõi sau mổ.
    • Hệ thống dao mổ cắt gan siêu âm CUSA Excel+.
    • Kính hiển vi phẫu thuật và kính lúp phẫu thuật phóng đại chuyên dụng phục vụ miệng nối mạch máu nhỏ.
    • Các vật liệu mạch máu: Tĩnh mạch hiển tự thân, tĩnh mạch cửa người nhận, đoạn mạch đồng loại bảo quản lạnh, đoạn mạch nhân tạo PTFE và PETE.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày hệ thống hóa cơ sở giải phẫu học của gan và các mạch máu liên quan trực tiếp đến phẫu thuật ghép gan, bao gồm giải phẫu động mạch thân tạng - động mạch gan, tĩnh mạch cửa, hệ thống tĩnh mạch gan và tĩnh mạch chủ dưới. Tác giả phân tích sâu về ứng dụng của các phân loại giải phẫu trong việc lập kế hoạch lấy mảnh ghép gan phải và chiến lược tạo hình mạch máu:

  • Phân tích các dạng mảnh ghép gan từ người hiến sống: thùy gan trái, gan trái, gan phải mở rộng (kèm hoặc không kèm tĩnh mạch gan giữa), phân thùy trước, phân thùy sau, mảnh ghép đôi và ghép gan Domino.
  • Đánh giá các kỹ thuật xử trí tĩnh mạch gan phải: kỹ thuật mở rộng miệng nối bằng đường rạch dọc mặt trước tĩnh mạch chủ dưới nhằm chống hẹp và tránh biến chứng đè ép khi mảnh gan phì đại.
  • Kỹ thuật tái tạo lưu thông các nhánh tĩnh mạch hạ phân thùy 5 (V5) và 8 (V8) của tĩnh mạch gan giữa có đường kính > 5 mm bằng các loại vật liệu mạch máu khác nhau.
  • Kỹ thuật xử trí các biến thể tĩnh mạch cửa (dạng B, C, D) và các mức độ huyết khối tĩnh mạch cửa theo Yerdel (lấy huyết khối, bắc cầu bằng tĩnh mạch chậu/tĩnh mạch cảnh, shunt lách-thận, sử dụng tĩnh mạch vị trái).
  • Kỹ thuật nối động mạch gan: so sánh kỹ thuật khâu mối rời và khâu mối vắt vi phẫu bằng chỉ 8/0, vai trò của kính hiển vi phẫu thuật so với kính lúp phẫu thuật trong việc hạ thấp tỷ lệ huyết khối động mạch gan từ 28,6% xuống 5,4%.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu gồm các cặp người hiến và người nhận gan được thực hiện ghép gan phải từ người hiến sống tại bệnh viện:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Người nhận có chỉ định ghép gan theo tiêu chuẩn King's College, Child-Pugh, MELD hoặc tiêu chuẩn Milan/UCSF; người hiến tình nguyện, tương thích nhóm máu hoặc xử lý theo quy trình, có tỷ lệ thể tích RLV/SLV ≥ 30% và GRBWR ≥ 0,6%, độ nhiễm mỡ gan < 30%.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không đủ điều kiện gây mê hồi sức, ung thư gan di căn xa ngoài tiêu chuẩn, nhiễm trùng nặng toàn thân chưa kiểm soát.
  • Quy trình kỹ thuật:
    • Đánh giá mạch máu trước mổ trên CLVT 320 dãy và siêu âm Doppler.
    • Kỹ thuật phẫu thuật lấy gan phải ở người hiến (mổ mở hoặc nội soi).
    • Kỹ thuật xử lý mảnh ghép tại bàn rửa: tưới rửa dung dịch bảo quản, tạo hình các nhánh tĩnh mạch gan (V5, V8, IRHV), tạo hình tĩnh mạch cửa bất thường.
    • Phẫu thuật người nhận: cắt gan bệnh lý, giải phóng tĩnh mạch chủ dưới, thực hiện các miệng nối tĩnh mạch gan, tĩnh mạch cửa, tái tưới máu mảnh ghép, khâu nối động mạch gan vi phẫu và nối đường mật.
  • Chỉ tiêu nghiên cứu: Thời gian mổ, lượng máu mất, thời gian thiếu máu lạnh, thời gian thiếu máu ấm, thời gian không gan, tốc độ và trở kháng dòng chảy mạch máu trên siêu âm Doppler, các biến chứng mạch máu (hẹp, tắc, huyết khối, bóc tách nội mạc), chức năng gan sau mổ và tỷ lệ sống thêm.

Chương 3: Kết quả

Chương 3 trình bày các số liệu thu thập được từ nhóm bệnh nhân nghiên cứu:

  • Đặc điểm lâm sàng và chỉ định: Tỷ lệ các nhóm chỉ định ghép gan gồm xơ gan mất bù do viêm gan virus B/C/rượu, suy gan cấp/suy gan cấp trên nền mạn (ACLF), ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) theo tiêu chuẩn Milan và UCSF.
  • Đặc điểm mạch máu và mảnh ghép: Số liệu về các dạng biến đổi giải phẫu động mạch gan (theo Varotti), tĩnh mạch cửa (theo Torres), tĩnh mạch gan (V5, V8, tĩnh mạch gan phải phụ theo Varotti); số liệu đo thể tích gan, chỉ số GRBWR và độ nhiễm mỡ của mảnh ghép.
  • Đặc điểm kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu:
    • Tỷ lệ áp dụng các phương pháp tạo hình mở rộng miệng nối tĩnh mạch gan phải vào tĩnh mạch chủ dưới.
    • Tỷ lệ tái tạo lưu thông các nhánh V5, V8 của tĩnh mạch gan giữa và các loại vật liệu mạch máu được sử dụng (tự thân, đồng loại, nhân tạo PTFE).
    • Tỷ lệ tái tạo lưu thông tĩnh mạch gan phải phụ (IRHV).
    • Kỹ thuật xử trí biến thể giải phẫu tĩnh mạch cửa và huyết khối tĩnh mạch cửa người nhận.
    • Kỹ thuật nối vi phẫu động mạch gan (mối rời, mối vắt, xử trí bóc tách nội mô theo chiều dài và chu vi).
  • Kết quả phục hồi và biến chứng:
    • Thông số trong mổ: Thời gian phẫu thuật, thời gian rửa gan, thời gian thiếu máu lạnh, thời gian không gan và lượng máu mất.
    • Kết quả huyết động học trên siêu âm Doppler mạch máu sau tái tưới máu và trong những ngày đầu sau mổ: vận tốc dòng chảy, chỉ số trở kháng (RI) động mạch gan.
    • Tỷ lệ biến chứng mạch máu sớm và muộn: biến chứng động mạch gan (huyết khối, hẹp miệng nối, bóc tách), biến chứng tĩnh mạch cửa (huyết khối, hẹp), biến chứng tĩnh mạch gan (hẹp miệng nối, ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch phân thùy trước).
    • Thời gian sống thêm toàn bộ và phân tích mối liên quan giữa biến chứng mạch máu với tỷ lệ sống sau ghép.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 phân tích, so sánh các phát hiện của nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:

  • Bàn luận về tính an toàn cho người hiến và hiệu quả cho người nhận khi lựa chọn mảnh ghép gan phải không kèm thân tĩnh mạch gan giữa nhưng có tái tạo lưu thông các nhánh V5, V8 đường kính > 5 mm.
  • Đánh giá ưu nhược điểm của các loại vật liệu ghép mạch máu: so sánh tính sẵn có và nguy cơ hình thành huyết khối, nhiễm trùng của mạch nhân tạo PTFE với mạch tự thân và mạch đồng loại.
  • Phân tích hiệu quả của kỹ thuật mở rộng miệng nối tĩnh mạch gan phải nhằm ngăn ngừa hiện tượng xoắn vặn và chèn ép miệng nối do sự phì đại bù trừ của mảnh gan ghép.
  • Bàn luận về các chiến lược xử trí huyết khối tĩnh mạch cửa mạn tính theo phân độ Yerdel và các phương án bắc cầu mạch máu đảm bảo lưu lượng máu cửa nuôi dưỡng mảnh ghép.
  • Đánh giá độ tin cậy và sự an toàn của kỹ thuật nối động mạch gan vi phẫu, xử trí bóc tách nội mạc động mạch gan người nhận để ngăn chặn nguy cơ huyết khối cấp tính gây mất chức năng mảnh ghép.
  • Phân tích các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến biến chứng mạch máu và đề xuất các giải pháp kỹ thuật tối ưu hóa dòng chảy trong mổ.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt kỹ thuật phẫu thuật:

    • Hệ thống hóa và chuẩn hóa quy trình tái tạo lưu thông các mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.
    • Xác lập chỉ định và quy trình tạo hình các nhánh tĩnh mạch gan giữa (V5, V8) có kích thước > 5 mm và tĩnh mạch gan phải phụ bằng các vật liệu mạch máu thích hợp nhằm tối ưu hóa dẫn lưu máu cho phân thùy trước, hạn chế hội chứng ứ trệ tuần hoàn mảnh ghép.
    • Áp dụng thành công các kỹ thuật mở rộng miệng nối tĩnh mạch gan phải vào tĩnh mạch chủ dưới và kỹ thuật nối động mạch gan vi phẫu, giúp kiểm soát tốt các biến chứng tắc mạch sớm.
  2. Về mặt lâm sàng và thực tiễn:

    • Cung cấp bức tranh toàn diện về đặc điểm biến đổi giải phẫu hệ mạch máu của người Việt Nam trong ghép gan phải từ người hiến sống.
    • Đánh giá chi tiết kết quả phục hồi dòng chảy mạch máu mảnh ghép qua theo dõi siêu âm Doppler và chụp cắt lớp vi tính.
    • Nhận diện các yếu tố nguy cơ liên quan đến biến chứng mạch máu, góp phần nâng cao tỷ lệ thành công của phẫu thuật ghép gan và cải thiện thời gian sống thêm của người bệnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm ghép tạng lớn với quy trình kỹ thuật đặc thù, số lượng bệnh nhân ở một số biến thể giải phẫu hiếm gặp (như huyết khối tĩnh mạch cửa độ nặng Yerdel III, IV hoặc bất thường động mạch gan phức tạp) còn hạn chế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng theo dõi dọc dài hạn về sự thay đổi huyết động học của mảnh ghép gan phải phì đại, đánh giá độ bền dài hạn của các cầu nối mạch máu nhân tạo (PTFE), nghiên cứu sâu hơn về phẫu thuật nội soi lấy mảnh ghép gan phải ở người hiến và các giải pháp can thiệp nội mạch xử trí biến chứng mạch máu muộn sau ghép.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị cao đối với:

  • Phẫu thuật viên Ngoại Tiêu hóa và Ghép tạng: Nắm vững các phương án xử trí kỹ thuật tạo hình mạch máu tại bàn rửa và kỹ thuật khâu nối mạch máu trong ổ bụng đối với các biến thể giải phẫu phức tạp.
  • Bác sĩ Gây mê hồi sức và Chẩn đoán hình ảnh: Tham khảo protocol chụp cắt lớp vi tính 320 dãy đo thể tích gan, đánh giá mạch máu trước mổ và kỹ thuật siêu âm Doppler mạch máu đánh giá huyết động học trong và sau mổ.
  • Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học chuyên ngành Ngoại khoa: Cung cấp tài liệu hệ thống về giải phẫu học ứng dụng, các bảng phân loại quốc tế và phương pháp nghiên cứu lâm sàng trong lĩnh vực ghép tạng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống lại phức tạp hơn ghép gan trái?

Kỹ thuật ở mảnh ghép gan phải phức tạp hơn do giải phẫu hệ tĩnh mạch gan có nhiều biến thể. Mảnh ghép gan phải thường chứa tĩnh mạch gan phải chính và có thể có từ 1-2 tĩnh mạch gan phải phụ (IRHV), cùng các nhánh tĩnh mạch thuộc tĩnh mạch gan giữa dẫn lưu cho hạ phân thùy 5 (V5) và 8 (V8). Khi không lấy kèm thân tĩnh mạch gan giữa để đảm bảo an toàn cho người hiến, phẫu thuật viên bắt buộc phải tạo hình tái tạo lưu thông các nhánh V5, V8 > 5 mm để tránh ứ máu phân thùy trước. Ngoài ra, mảnh gan phải khi phì đại sau mổ có thể đè ép lên tĩnh mạch chủ dưới và miệng nối.

2. Tiêu chuẩn nào được sử dụng để quyết định tạo hình lại các nhánh tĩnh mạch gan giữa (V5, V8) và tĩnh mạch gan phải phụ?

Các nghiên cứu và thực hành phẫu thuật thống nhất chỉ định tạo hình và bảo tồn cầu nối đối với các nhánh tĩnh mạch dẫn lưu hạ phân thùy 5 (V5), hạ phân thùy 8 (V8) cũng như tĩnh mạch gan phải phụ (IRHV) khi các nhánh mạch này có đường kính từ 5 mm trở lên trên chẩn đoán hình ảnh và đánh giá trực tiếp trong mổ.

3. Những loại vật liệu nào được sử dụng để làm cầu nối tái tạo lưu thông tĩnh mạch gan trong luận án?

Các vật liệu mạch máu được sử dụng gồm 3 nhóm chính:

  • Mạch máu tự thân: Tĩnh mạch hiển lớn người nhận, tĩnh mạch cửa người nhận.
  • Mạch máu đồng loại: Động mạch chậu hoặc tĩnh mạch chậu đồng loại bảo quản lạnh (từ người hiến chết não).
  • Mạch máu nhân tạo: Đoạn mạch tổng hợp PTFE (Polytetrafluoroethylene) hoặc PETE.

4. Phân loại Yerdel chia huyết khối tĩnh mạch cửa thành mấy mức độ và ảnh hưởng thế nào đến kỹ thuật mổ?

Phân loại Yerdel chia huyết khối tĩnh mạch cửa thành 4 độ (Độ I: tắc < 50% lòng mạch; Độ II: tắc > 50% hoặc tắc hoàn toàn thân tĩnh mạch cửa; Độ III: tắc hoàn toàn lan đến phần gần tĩnh mạch mạc treo tràng trên; Độ IV: tắc hoàn toàn toàn bộ tĩnh mạch mạc treo tràng trên). Đối với độ I và II, phẫu thuật viên thực hiện lấy bỏ huyết khối hoặc cắt thay đoạn mạch. Đối với độ III và IV, cần thực hiện kỹ thuật bắc cầu mạch máu (jump graft) sử dụng tĩnh mạch chậu ngoài, tĩnh mạch cảnh trong nối từ tĩnh mạch mạc treo tràng trên, hoặc tận dụng tĩnh mạch thận trái (shunt lách-thận) hay tĩnh mạch vị trái giãn.

5. Vai trò của kính hiển vi phẫu thuật trong khâu nối động mạch gan được chứng minh như thế nào qua y văn?

Việc nối động mạch gan trong ghép gan từ người hiến sống gặp nhiều thử thách do khẩu kính mạch rất nhỏ. Kỹ thuật vi phẫu dưới kính hiển vi phẫu thuật (được nhóm nghiên cứu Kyoto giới thiệu từ những năm 1990) đã giúp giảm tỷ lệ biến chứng huyết khối động mạch gan từ 28,6% xuống còn 5,4%. Khi xảy ra huyết khối động mạch gan cấp tính, có trên 50% trường hợp phải chỉ định ghép lại gan khẩn cấp.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Trung Hiếu là công trình nghiên cứu ngoại khoa chuyên sâu về kỹ thuật tạo hình và tái tạo lưu thông hệ mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống tại Việt Nam. Tác giả đã tổng hợp đầy đủ cơ sở giải phẫu học ứng dụng, các bảng phân loại quốc tế và phân tích cụ thể các kỹ thuật khâu nối tĩnh mạch gan, tĩnh mạch cửa và động mạch gan vi phẫu. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng giúp kiểm soát biến chứng mạch máu, nâng cao hiệu quả phẫu thuật và đóng góp vào sự phát triển của chuyên ngành ghép tạng trong nước.