CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, an toàn sinh học phòng xét nghiệm là thuật ngữ sử dụng để mô tả những nguyên tắc phòng ngừa, các kỹ thuật và thực hành cần thiết để ngăn ngừa những phơi nhiễm không mong muốn hoặc vô tình làm thất thoát tác nhân gây bệnh và độc tố [38]. Nhóm nguy cơ: Vi sinh vật được phân loại thành các nhóm nguy cơ dựa trên các đặc điểm của chúng, ví dụ: khả năng gây bệnh, liều nhiễm trùng, đường lây nhiễm, vật chủ,… Theo thông tư 07/2012/TT-BYT ban hành ngày 14 tháng 5 năm 2012 của Bộ Y tế, có 4 nhóm nguy cơ là nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 và nhóm 4 [5]. Cấp độ an toàn sinh học phòng xét nghiệm: Dựa trên Luật phòng chống Bệnh truyền nhiễm được Chính phủ ban hành năm 2010 và các văn bản hướng dẫn, Bộ Y tế quy định có 4 cấp độ an toàn sinh học của phòng xét nghiệm phù hợp với tác nhân gây bệnh theo nhóm nguy cơ và kỹ thuật xét nghiệm [5, 6, 9, 10] bao gồm phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp I thực hiện xét nghiệm đối với các loại vi sinh vật thuộc nhóm 1, phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp II thực hiện xét nghiệm đối với các loại vi sinh vật thuộc nhóm 2, phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III thực hiện xét nghiệm đối với các loại vi sinh vật thuộc nhóm 3 và phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp IV thực hiện xét nghiệm đối với các loại vi sinh vật thuộc nhóm 4.
Phòng xét nghiệm An toàn sinh học cấp II: thường được sử dụng để nghiên cứu, chẩn đoán, xét nghiệm các tác nhân gây bệnh thuộc nhóm nguy cơ 2 [6, 10]. Tác nhân gây bệnh là các loại vi sinh vật (vi khuẩn, virus, nấm, gen của virus có tính truyền nhiễm, hoặc plasmid…), ký sinh trùng và các độc tố của chúng có khả năng gây bệnh cho con người. Lây nhiễm liên quan đến phòng xét nghiệm (laboratory associated infections – LAI) là tất cả các lây nhiễm mắc phải thông qua các hoạt động tại phòng xét nghiệm hoặc liên quan đến phòng xét nghiệm. 4 Nhân viên phòng xét nghiệm bao gồm tất cả những người làm việc trong phòng xét nghiệm như người phụ trách phòng xét nghiệm, người làm xét nghiệm hay làm công tác khử nhiễm.
Thực trạng an toàn sinh học phòng xét nghiệm 1.1 Trên thế giới Từ đầu thế kỷ XVIII, vấn đề an toàn sinh học đã được quan tâm nghiên cứu, bước đầu với việc tìm ra các biện pháp khử trùng bằng lửa, nước sôi, hóa chất tiếp đến là tìm ra các loại vi khuẩn gây bệnh cùng với các thiết bị sử dụng trong quá trình xét nghiệm như bình thủy tinh kín, dụng cụ hỗ trợ pipet,. Trên thế giới gần đây đã xuất hiện những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và mới nổi đặc biệt là những mối đe dọa mới của khủng bố sinh học. Do đó, các tổ chức, quản lý phòng xét nghiệm bắt buộc phải đánh giá và bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm, trình độ của nhân viên, cũng như tính năng của thiết bị, phương tiện và phương thức quản lý để phòng ngừa và bảo mật các tác nhân vi sinh gây bệnh. Tương tự như vậy, nhân viên phòng xét nghiệm làm việc với tác nhân vi sinh vật gây bệnh phải hiểu các điều kiện lây nhiễm để phòng ngừa tác nhân gây bệnh bằng thực hiện thao tác chung và đảm bảo an toàn.
Sử dụng các kỹ thuật và thiết bị thích hợp sẽ cho phép phòng ngừa các tác nhân gây bệnh cho nhân viên phòng xét nghiệm và môi trường. Đến những năm 1930, các nghiên cứu có hệ thống những trường hợp lây nhiễm trong phòng xét nghiệm cùng với điều kiện an toàn trong khi làm việc mới bắt đầu được thực hiện. Năm 1941, Meyer và Eddie công bố một kết quả điều tra trên 74 trường hợp bị nhiễm Brucella liên quan đến phòng xét nghiệm xảy ra ở Mỹ và đưa ra kết luận: "việc giữ chủng hoặc tiêu bản hoặc hít phải bụi có chứa vi khuẩn Brucella là thực sự nguy hiểm đối với người làm việc trong phòng xét nghiệm"[25]. Nhiều trường hợp bệnh xảy ra là do bất cẩn hoặc do tiến hành xét nghiệm không đúng kỹ thuật.
Vào những năm 1940, các quy định, hướng dẫn về đào tạo và bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và bảo hộ cá nhân đã được ban hành tại nhiều nước. Năm 1949, Sulkin và Pike đã đăng bài báo đầu tiên trong số nhiều cuộc 5 điều tra về các bệnh nhiễm trùng liên quan đến phòng xét nghiệm. Các điều tra này đã cho thấy 222 trường hợp nhiễm virus, trong đó có 21 trường hợp tử vong. Ít nhất một phần ba trong số các trường hợp bệnh có thể bị lây nhiễm do làm việc với động vật bị bệnh hay bệnh phẩm.
Người ta đã ghi lại được các sự cố trong phòng xét nghiệm đối với 27 (12%) trường hợp bệnh [30]. Năm 1951, Sulkin và Pike đã đưa ra kết quả của loạt điều tra thứ 2, dựa trên việc gửi bảng câu hỏi cho 5.000 phòng xét nghiệm. Chỉ một phần ba trong số 1.342 trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm liên quan đến phòng xét nghiệm được ghi lại. Nhiễm Brucella được ghi nhận nhiều nhất trong số các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm mắc phải trong phòng xét nghiệm, cùng với nhiễm lao, thương hàn, tularemia và Streptococcus, chiếm 72% các trường hợp nhiễm vi khuẩn hay 31% các trường hợp lây nhiễm đối với tất cả các loại TNGB.
Các trường hợp tử vong chiếm 3%[31]. Năm 1967, Hanson và cộng sự báo cáo 428 trường hợp nhiễm virus Arbo có liên quan đến phòng xét nghiệm. Trong một số trường hợp, khả năng gây bệnh của virus Arbo cho người được xác định ban đầu là do lây nhiễm ngẫu nhiên cho người làm việc trong phòng xét nghiệm. Việc phơi nhiễm với hạt khí dung nhiễm trùng được cho là nguồn truyền bệnh chủ yếu [21].
Năm 1974, Skinholj công bố kết quả điều tra cho thấy những người làm việc trong các phòng xét nghiệm hóa lâm sàng ở Đan Mạch đã bị lây nhiễm bệnh viêm gan (trung bình 2,3 trường hợp/năm/1.000 người), với tỷ lệ cao hơn trong cộng đồng đến 7 lần [29]. Đến năm 1978, Pike và cộng sự bổ sung thêm 158 trường hợp lây nhiễm mới, đưa tổng số lên 4.079 trường hợp lây nhiễm liên quan đến phòng xét nghiệm được ghi nhận trong đó có 168 trường hợp tử vong. Thực tế từ các loại hình công việc tại các phòng xét nghiệm được điều tra cho thấy vi khuẩn gây ra 1.704 trường hợp lây nhiễm, virus gây ra 1.179 trường hợp, Rickettsia gây ra 598 trường hợp, nấm gây ra 354 trường hợp, Chlamydia gây ra 128 trường hợp và 116 trường hợp là do ký sinh trùng [27]. 6 Trong giai đoạn từ năm 1979 đến năm 2004, thông qua các số liệu sẵn có, Harding và Byers đã thống kê được 1.448 trường hợp lây nhiễm có triệu chứng và 708 trường hợp lây nhiễm không có triệu chứng tại Mỹ và một số nước khác.
Trong các trường hợp này có 36 trường hợp tử vong và 17 trường hợp lây nhiễm thứ phát. Vi khuẩn và virus là nguyên nhân gây ra 1.206 trường hợp lây nhiễm được biết (chiếm 83%) [22]. Các trường hợp lây nhiễm liên quan đến phòng xét nghiệm được ghi nhận từ năm 1979 đến năm 2004 Số lượng Loại tác nhân gây Không có Lây nhiễm Có triệu Lây nhiễm bệnh triệu nguyên Tử vong chứng thứ phát chứng phát Virus 608 430 1.038 18 10 Vi khuẩn 598 60 658 17 7 Rickettsia 187 214 401 1 0 Ký sinh 49 4 53 0 0 trùng Nấm 6 0 6 0 0 Tổng 1.156 36 17 Để giảm thiếu các sự cố lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm mắc phải trong phòng xét nghiệm, năm 1983, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố ấn bản đầu tiên của “Cẩm nang an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm”. Các hướng dẫn này khuyến khích phòng xét nghiệm trên toàn thế giới phải chấp nhận và thực hiện các khái niệm cơ bản về an toàn sinh học và từng bước phát triển quy trình về thực hành xử lý an toàn các vi sinh vật gây bệnh trong phòng xét nghiệm.
Ấn bản thứ 2 được xuất bản vào năm 1993, bổ sung nội dung quy trình kỹ thuật ở phiên bản trước, yêu cầu các kỹ thuật viên trong phòng xét nghiệm được đào tạo tốt và thành thạo trong thực hành an toàn và có thêm 2 nội dung mới về đánh giá nguy cơ vi sinh vật và an toàn sử dụng công nghệ ADN tái tổ hợp. Giống như ấn bản đầu tiên, WHO khuyến khích các quốc gia thực hiện an toàn sinh học. 7 WHO tiếp tục xuất bản ấn bản thứ 3 của “Cẩm nang an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm” vào năm 2004. Đặc biệt, trong hướng dẫn mới nhất này, WHO nhấn mạnh đến tầm quan trọng của trách nhiệm của từng kỹ thuật viên.
Ngoài việc bổ sung nội dung phần đánh giá nguy cơ vi sinh vật và an toàn sử dụng công nghệ ADN tái tổ hợp, WHO quy định về việc vận chuyển vật liệu truyền nhiễm, giới thiệu về khái niệm an toàn sinh học, an ninh sinh học. Ấn bản thứ 3 của “Cẩm nang an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm” của WHO là một tài liệu tham khảo hữu ích và hướng dẫn cho các quốc gia trên thế giới xây dựng và phát triển bộ luật về thực hành đảm bảo tài sản vi sinh sử dụng cho lâm sàng, nghiên cứu và dịch tễ học [36]. Hiện nay, tại một số nước như Canada, Nhật Bản, New Zealand, đã ban hành hướng dẫn về an toàn sinh học phòng xét nghiệm, một số nước đã ban hành Luật về an toàn sinh học như Singapore, Malaysia để thống nhất và quản lý an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm. Nhật Bản không có một đạo luật quy định riêng về tiêu chuẩn an toàn sinh học và yêu cầu bảo vệ đối với cơ sở lưu trữ tác nhân gây bệnh.