Luận văn thực trạng kiến thức và thực hành an toàn sinh học của nhân viên phòng xét nghiệm tại trung tâm y tế dự phòng một số tỉnh phía bắc năm 2017

Luận văn phân tích thực trạng kiến thức và thực hành an toàn sinh học của nhân viên phòng xét nghiệm tại các trung tâm y tế dự phòng phía Bắc năm 2017.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

114
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Kiến thức an toàn sinh học

Nghiên cứu tập trung vào đánh giá kiến thức an toàn sinh học của nhân viên phòng xét nghiệm tại các tỉnh phía Bắc năm 2017. Kết quả cho thấy 71,1% nhân viên có kiến thức đạt chuẩn. Các yếu tố như thâm niên công tác, việc tham gia đào tạo an toàn sinh học, và thời gian đào tạo có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ hiểu biết. Nhân viên có thời gian làm việc dưới 5 năm có kiến thức tốt hơn so với nhóm có thâm niên cao hơn. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc cập nhật kiến thức thường xuyên.

1.1. Yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức

Thâm niên công tác và việc tham gia đào tạo an toàn sinh học là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến kiến thức. Nhân viên được đào tạo có kiến thức đạt cao hơn 1,4-11,7 lần so với nhóm không được đào tạo. Thời gian đào tạo cũng có mối liên hệ chặt chẽ với mức độ hiểu biết, nhấn mạnh sự cần thiết của các khóa học định kỳ.

II. Thực hành an toàn sinh học

Tỷ lệ nhân viên có thực hành an toàn sinh học đạt chuẩn là 57,2%. Các yếu tố như trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, và việc trực tiếp làm xét nghiệm ảnh hưởng đến kết quả này. Nhân viên có trình độ chuyên môn về xét nghiệm có thực hành tốt hơn 1,1-4,2 lần so với nhóm không có chuyên môn. Việc tham gia đào tạo an toàn sinh học cũng làm tăng khả năng thực hành đúng chuẩn lên 7,5 lần.

2.1. Yếu tố ảnh hưởng đến thực hành

Trình độ chuyên môn và việc trực tiếp làm xét nghiệm là hai yếu tố quan trọng. Nhân viên trực tiếp làm xét nghiệm có thực hành tốt hơn 1,0-5,2 lần so với nhóm không trực tiếp. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc rèn luyện kỹ năng thực tế trong quá trình đào tạo.

III. Quản lý an toàn sinh học

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm y tế. Việc tuân thủ các quy trình an toàn sinh học và sử dụng thiết bị bảo hộ đúng cách là yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro lây nhiễm. Các phòng xét nghiệm cần được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất và thiết bị để đảm bảo an toàn cho nhân viên và môi trường.

3.1. Cải thiện quy trình

Việc cập nhật và tuân thủ các quy trình an toàn sinh học là cần thiết. Các phòng xét nghiệm cần thường xuyên kiểm tra và đánh giá để đảm bảo các quy trình được thực hiện đúng cách. Điều này giúp giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm và nâng cao hiệu quả công việc.

IV. Đào tạo và nâng cao nhận thức

Nghiên cứu chỉ ra rằng đào tạo an toàn sinh học là yếu tố quan trọng để nâng cao kiến thức và thực hành của nhân viên. Các khóa học định kỳ giúp nhân viên cập nhật kiến thức mới và rèn luyện kỹ năng thực hành. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đang gia tăng.

4.1. Tầm quan trọng của đào tạo

Nhân viên được đào tạo có kiến thức và thực hành tốt hơn đáng kể so với nhóm không được đào tạo. Các khóa học cần tập trung vào cả lý thuyết và thực hành để đảm bảo nhân viên có thể áp dụng kiến thức vào công việc hàng ngày.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, an toàn sinh học phòng xét nghiệm là thuật ngữ sử dụng để mô tả những nguyên tắc phòng ngừa, các kỹ thuật và thực hành cần thiết để ngăn ngừa những phơi nhiễm không mong muốn hoặc vô tình làm thất thoát tác nhân gây bệnh và độc tố [38]. Nhóm nguy cơ: Vi sinh vật được phân loại thành các nhóm nguy cơ dựa trên các đặc điểm của chúng, ví dụ: khả năng gây bệnh, liều nhiễm trùng, đường lây nhiễm, vật chủ,… Theo thông tư 07/2012/TT-BYT ban hành ngày 14 tháng 5 năm 2012 của Bộ Y tế, có 4 nhóm nguy cơ là nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 và nhóm 4 [5]. Cấp độ an toàn sinh học phòng xét nghiệm: Dựa trên Luật phòng chống Bệnh truyền nhiễm được Chính phủ ban hành năm 2010 và các văn bản hướng dẫn, Bộ Y tế quy định có 4 cấp độ an toàn sinh học của phòng xét nghiệm phù hợp với tác nhân gây bệnh theo nhóm nguy cơ và kỹ thuật xét nghiệm [5, 6, 9, 10] bao gồm phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp I thực hiện xét nghiệm đối với các loại vi sinh vật thuộc nhóm 1, phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp II thực hiện xét nghiệm đối với các loại vi sinh vật thuộc nhóm 2, phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III thực hiện xét nghiệm đối với các loại vi sinh vật thuộc nhóm 3 và phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp IV thực hiện xét nghiệm đối với các loại vi sinh vật thuộc nhóm 4.

Phòng xét nghiệm An toàn sinh học cấp II: thường được sử dụng để nghiên cứu, chẩn đoán, xét nghiệm các tác nhân gây bệnh thuộc nhóm nguy cơ 2 [6, 10]. Tác nhân gây bệnh là các loại vi sinh vật (vi khuẩn, virus, nấm, gen của virus có tính truyền nhiễm, hoặc plasmid…), ký sinh trùng và các độc tố của chúng có khả năng gây bệnh cho con người. Lây nhiễm liên quan đến phòng xét nghiệm (laboratory associated infections – LAI) là tất cả các lây nhiễm mắc phải thông qua các hoạt động tại phòng xét nghiệm hoặc liên quan đến phòng xét nghiệm. 4 Nhân viên phòng xét nghiệm bao gồm tất cả những người làm việc trong phòng xét nghiệm như người phụ trách phòng xét nghiệm, người làm xét nghiệm hay làm công tác khử nhiễm.

Thực trạng an toàn sinh học phòng xét nghiệm 1.1 Trên thế giới Từ đầu thế kỷ XVIII, vấn đề an toàn sinh học đã được quan tâm nghiên cứu, bước đầu với việc tìm ra các biện pháp khử trùng bằng lửa, nước sôi, hóa chất tiếp đến là tìm ra các loại vi khuẩn gây bệnh cùng với các thiết bị sử dụng trong quá trình xét nghiệm như bình thủy tinh kín, dụng cụ hỗ trợ pipet,. Trên thế giới gần đây đã xuất hiện những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và mới nổi đặc biệt là những mối đe dọa mới của khủng bố sinh học. Do đó, các tổ chức, quản lý phòng xét nghiệm bắt buộc phải đánh giá và bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm, trình độ của nhân viên, cũng như tính năng của thiết bị, phương tiện và phương thức quản lý để phòng ngừa và bảo mật các tác nhân vi sinh gây bệnh. Tương tự như vậy, nhân viên phòng xét nghiệm làm việc với tác nhân vi sinh vật gây bệnh phải hiểu các điều kiện lây nhiễm để phòng ngừa tác nhân gây bệnh bằng thực hiện thao tác chung và đảm bảo an toàn.

Sử dụng các kỹ thuật và thiết bị thích hợp sẽ cho phép phòng ngừa các tác nhân gây bệnh cho nhân viên phòng xét nghiệm và môi trường. Đến những năm 1930, các nghiên cứu có hệ thống những trường hợp lây nhiễm trong phòng xét nghiệm cùng với điều kiện an toàn trong khi làm việc mới bắt đầu được thực hiện. Năm 1941, Meyer và Eddie công bố một kết quả điều tra trên 74 trường hợp bị nhiễm Brucella liên quan đến phòng xét nghiệm xảy ra ở Mỹ và đưa ra kết luận: "việc giữ chủng hoặc tiêu bản hoặc hít phải bụi có chứa vi khuẩn Brucella là thực sự nguy hiểm đối với người làm việc trong phòng xét nghiệm"[25]. Nhiều trường hợp bệnh xảy ra là do bất cẩn hoặc do tiến hành xét nghiệm không đúng kỹ thuật.

Vào những năm 1940, các quy định, hướng dẫn về đào tạo và bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và bảo hộ cá nhân đã được ban hành tại nhiều nước. Năm 1949, Sulkin và Pike đã đăng bài báo đầu tiên trong số nhiều cuộc 5 điều tra về các bệnh nhiễm trùng liên quan đến phòng xét nghiệm. Các điều tra này đã cho thấy 222 trường hợp nhiễm virus, trong đó có 21 trường hợp tử vong. Ít nhất một phần ba trong số các trường hợp bệnh có thể bị lây nhiễm do làm việc với động vật bị bệnh hay bệnh phẩm.

Người ta đã ghi lại được các sự cố trong phòng xét nghiệm đối với 27 (12%) trường hợp bệnh [30]. Năm 1951, Sulkin và Pike đã đưa ra kết quả của loạt điều tra thứ 2, dựa trên việc gửi bảng câu hỏi cho 5.000 phòng xét nghiệm. Chỉ một phần ba trong số 1.342 trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm liên quan đến phòng xét nghiệm được ghi lại. Nhiễm Brucella được ghi nhận nhiều nhất trong số các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm mắc phải trong phòng xét nghiệm, cùng với nhiễm lao, thương hàn, tularemia và Streptococcus, chiếm 72% các trường hợp nhiễm vi khuẩn hay 31% các trường hợp lây nhiễm đối với tất cả các loại TNGB.

Các trường hợp tử vong chiếm 3%[31]. Năm 1967, Hanson và cộng sự báo cáo 428 trường hợp nhiễm virus Arbo có liên quan đến phòng xét nghiệm. Trong một số trường hợp, khả năng gây bệnh của virus Arbo cho người được xác định ban đầu là do lây nhiễm ngẫu nhiên cho người làm việc trong phòng xét nghiệm. Việc phơi nhiễm với hạt khí dung nhiễm trùng được cho là nguồn truyền bệnh chủ yếu [21].

Năm 1974, Skinholj công bố kết quả điều tra cho thấy những người làm việc trong các phòng xét nghiệm hóa lâm sàng ở Đan Mạch đã bị lây nhiễm bệnh viêm gan (trung bình 2,3 trường hợp/năm/1.000 người), với tỷ lệ cao hơn trong cộng đồng đến 7 lần [29]. Đến năm 1978, Pike và cộng sự bổ sung thêm 158 trường hợp lây nhiễm mới, đưa tổng số lên 4.079 trường hợp lây nhiễm liên quan đến phòng xét nghiệm được ghi nhận trong đó có 168 trường hợp tử vong. Thực tế từ các loại hình công việc tại các phòng xét nghiệm được điều tra cho thấy vi khuẩn gây ra 1.704 trường hợp lây nhiễm, virus gây ra 1.179 trường hợp, Rickettsia gây ra 598 trường hợp, nấm gây ra 354 trường hợp, Chlamydia gây ra 128 trường hợp và 116 trường hợp là do ký sinh trùng [27]. 6 Trong giai đoạn từ năm 1979 đến năm 2004, thông qua các số liệu sẵn có, Harding và Byers đã thống kê được 1.448 trường hợp lây nhiễm có triệu chứng và 708 trường hợp lây nhiễm không có triệu chứng tại Mỹ và một số nước khác.

Trong các trường hợp này có 36 trường hợp tử vong và 17 trường hợp lây nhiễm thứ phát. Vi khuẩn và virus là nguyên nhân gây ra 1.206 trường hợp lây nhiễm được biết (chiếm 83%) [22]. Các trường hợp lây nhiễm liên quan đến phòng xét nghiệm được ghi nhận từ năm 1979 đến năm 2004 Số lượng Loại tác nhân gây Không có Lây nhiễm Có triệu Lây nhiễm bệnh triệu nguyên Tử vong chứng thứ phát chứng phát Virus 608 430 1.038 18 10 Vi khuẩn 598 60 658 17 7 Rickettsia 187 214 401 1 0 Ký sinh 49 4 53 0 0 trùng Nấm 6 0 6 0 0 Tổng 1.156 36 17 Để giảm thiếu các sự cố lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm mắc phải trong phòng xét nghiệm, năm 1983, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố ấn bản đầu tiên của “Cẩm nang an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm”. Các hướng dẫn này khuyến khích phòng xét nghiệm trên toàn thế giới phải chấp nhận và thực hiện các khái niệm cơ bản về an toàn sinh học và từng bước phát triển quy trình về thực hành xử lý an toàn các vi sinh vật gây bệnh trong phòng xét nghiệm.

Ấn bản thứ 2 được xuất bản vào năm 1993, bổ sung nội dung quy trình kỹ thuật ở phiên bản trước, yêu cầu các kỹ thuật viên trong phòng xét nghiệm được đào tạo tốt và thành thạo trong thực hành an toàn và có thêm 2 nội dung mới về đánh giá nguy cơ vi sinh vật và an toàn sử dụng công nghệ ADN tái tổ hợp. Giống như ấn bản đầu tiên, WHO khuyến khích các quốc gia thực hiện an toàn sinh học. 7 WHO tiếp tục xuất bản ấn bản thứ 3 của “Cẩm nang an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm” vào năm 2004. Đặc biệt, trong hướng dẫn mới nhất này, WHO nhấn mạnh đến tầm quan trọng của trách nhiệm của từng kỹ thuật viên.

Ngoài việc bổ sung nội dung phần đánh giá nguy cơ vi sinh vật và an toàn sử dụng công nghệ ADN tái tổ hợp, WHO quy định về việc vận chuyển vật liệu truyền nhiễm, giới thiệu về khái niệm an toàn sinh học, an ninh sinh học. Ấn bản thứ 3 của “Cẩm nang an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm” của WHO là một tài liệu tham khảo hữu ích và hướng dẫn cho các quốc gia trên thế giới xây dựng và phát triển bộ luật về thực hành đảm bảo tài sản vi sinh sử dụng cho lâm sàng, nghiên cứu và dịch tễ học [36]. Hiện nay, tại một số nước như Canada, Nhật Bản, New Zealand, đã ban hành hướng dẫn về an toàn sinh học phòng xét nghiệm, một số nước đã ban hành Luật về an toàn sinh học như Singapore, Malaysia để thống nhất và quản lý an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm. Nhật Bản không có một đạo luật quy định riêng về tiêu chuẩn an toàn sinh học và yêu cầu bảo vệ đối với cơ sở lưu trữ tác nhân gây bệnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Kiến thức và thực hành an toàn sinh học của nhân viên phòng xét nghiệm tại các tỉnh phía Bắc năm 2017 là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá mức độ hiểu biết và thực hành an toàn sinh học của nhân viên làm việc trong các phòng xét nghiệm. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biện pháp phòng ngừa, quy trình xử lý mẫu bệnh phẩm, và cách thức đảm bảo an toàn cho cả nhân viên và cộng đồng. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các chuyên gia y tế, nhà quản lý phòng xét nghiệm, và những người quan tâm đến lĩnh vực an toàn sinh học.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Kiến thức thái độ thực hành báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh ninh bình năm 2020 và một số yếu tố ảnh hưởng, nghiên cứu này tập trung vào thực hành báo cáo sự cố y khoa, một khía cạnh quan trọng trong quản lý an toàn y tế. Ngoài ra, Luận văn thực trạng quản lý nhân lực y tế dự phòng và một số yếu tố ảnh hưởng tại các cơ sở y tế công lập tỉnh đắk lắk giai đoạn 2020 2021 cung cấp thông tin về quản lý nhân lực trong lĩnh vực y tế dự phòng, một yếu tố then chốt để đảm bảo an toàn sinh học. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ sinh học thực nghiệm nghiên cứu tính an toàn của thể tiết ngoại bào từ tế bào gốc trung mô dây rốn trên in vitro và trên động vật thực nghiệm mang đến góc nhìn chuyên sâu về an toàn trong nghiên cứu sinh học, một lĩnh vực liên quan mật thiết đến phòng xét nghiệm.