ĐẶT VẤN ĐỀ Nhân lực là một trong năm yếu tố đầu vào, đƣợc coi là thành phần cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống y tế Việt Nam, là yếu tố cơ bản cho mọi thành tựu y tế, tạo nên thành công của các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế nói riêng, ngành y tế nói chung. Số lƣợng và chất lƣợng của nhân lực y tế (NLYT) có sự liên quan mật thiết với sức khỏe của toàn dân nói chung và của ngành y tế nói riêng (1), (2), (3). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đã có sự thiếu hụt về số lƣợng, mất cân đối về cơ cấu nhân lực trong hệ thống y tế nói chung và hệ thống y tế dự phòng (YTDP) nói riêng, trong đó chủ yếu là thiếu bác sỹ và kỹ thuật viên y tế (2). Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là do hệ thống tổ chức ngành y tế không ổn định do thƣờng xuyên chia tách, sáp nhập, thay đổi mô hình và đặc biệt là các chính sách đãi ngộ chƣa tƣơng xứng, phù hợp với tình hình hiện nay (4), (5).
Mặc dù Nhà nƣớc có chính sách xây dựng và phát triển các đơn vị sự nghiệp công lập và đội ngũ viên chức (6), Bộ Y tế có quy hoạch phát triển NLYT giai đoạn 2012-2020 nhƣng tỷ lệ NLYT/dân số vẫn còn thấp so với các nƣớc trên thế giới, đặc biệt thiếu ở NLYT hệ dự phòng (7), (8). Nhiều năm nay định mức số lƣợng ngƣời làm việc (biên chế viên chức) đƣợc giao cho ngành y tế rất thấp so với định mức quy định tại Thông tƣ liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 05/6/2007 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ hƣớng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế công lập (hiện nay văn bản hết hiệu lực); số lƣợng viên chức và ngƣời lao động đƣợc giao chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu tối thiểu của ngành Y tế (4). Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển kinh tế thị trƣờng, đang có xu hƣớng chuyển dịch nguồn nhân lực (NNL) từ khu vực công sang khu vực tƣ, trong đó có nguồn NLYT (9), (10). Tỉnh Đắk Lắk đã thành lập Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (TTKSBT) ở tuyến tỉnh trên cơ sở sáp nhập các trung tâm tuyến tỉnh có cùng chức năng, hoạt động kể từ ngày 01/10/2019 (11); Đối với cấp huyện, thực hiện thống nhất mô hình mỗi huyện chỉ có một Trung tâm y tế đa chức năng bao gồm y tế dự phòng, dân số, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và các DVYT khác (12).
Việc thực hiện tổ chức Trung tâm y tế cấp huyện có 2 chức năng ―y tế dự phòng và khám bệnh, chữa bệnh‖ phù hợp với điều kiện thực tế, tránh đầu tƣ dàn trải, tập hợp đƣợc nhân 2 lực, tăng kết nối giữa lĩnh vực y tế dự phòng và khám, chữa bệnh (13). Việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm giảm mạnh đầu mối, khắc phục chồng chéo, dàn trải, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ (12). Tuy nhiên, từ khi dịch COVID-19 xảy ra, khối lƣợng công việc của cán bộ y tế (CBYT) hệ dự phòng tăng lên rất nhiều để phục vụ việc khống chế và kiểm soát bệnh dịch làm cho nhân lực y tế đã thiếu nay càng thiếu hơn, nhiều CBYT hệ dự phòng làm việc quá tải mà thu nhập không tƣơng xứng nên đã xin nghỉ việc (10), (14), (15). Cho đến nay, tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk chƣa có nghiên cứu nào đƣợc thực hiện nhằm đánh giá thực trạng cũng nhƣ phân tích những yếu tố ảnh hƣởng trong quản lý nhân lực y tế dự phòng (YTDP) sau khi thực hiện sáp nhập tại các đơn vị sự nghiệp y tế.
Do vậy, để có cơ sở khoa học để đƣa ra các khuyến nghị đối với hệ YTDP trong việc tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, bố trí sử dụng nhân lực y tế tại tỉnh Đắk Lắk có hiệu quả, góp phần giúp đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng quản lý nhân lực y tế dự phòng và một số yếu tố ảnh hƣởng tại các cơ sở y tế công lập tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2020-2021”. Trên thực tế CBYT chuyên trách làm chuyên môn YTDP chỉ đƣợc biên chế tại TTKSBT và TTYT huyện còn ở các trạm y tế đều phải thực hiện cả 2 chức năng dự phòng và điều trị. Do vậy, trong giới hạn đề tài chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu tại TTKSBT và các TTYT huyện. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng quản lý nhân lực y tế dự phòng tại các cơ sở y tế công lập tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2020-2021. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến quản lý nhân lực y tế dự phòng tại các cơ sở y tế công lập, tỉnh Đắk Lắk. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LI U 1. Một số khái niệm về nhân lực và quản lý nhân lực 1.
Nhân lực Nhân lực là sức lực con ngƣời, nằm ở mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động thành con ngƣời có sức lao động (1). Nguồn nhân lực NNL của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. NNL khác với các nguồn lực khác của đơn vị do chính bản chất của con ngƣời.
Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm, hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trƣờng xung quanh (1), (16). NNL là sự kết hợp giữa những kỹ năng, kiến thức và các khả năng đƣợc đặt dƣới sự kiểm soát của một tổ chức dƣới dạng mối quan hệ lao động trực tiếp và sự biểu hiện của những khả năng đó dƣới hình thức các hành vi của nhân viên sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức (17). NNL là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu phát triển ngƣời lao động nói chung cả hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai.
NNL cũng phản ảnh tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới (18). Nguồn nhân lực y tế Nguồn nhân lực y tế: Nhân lực y tế đƣợc xem là một phần quan trọng của hệ thống y tế, là yếu tố chính đảm bảo hiệu quả, chất lƣợng dịch vụ y tế. Quản lý và điều hành tốt nguồn nhân lực y tế không những giúp nâng cao chất lƣợng dịch vụ mà còn 5 tăng cƣờng công bằng trong CSSK và nâng cao hiệu quản sử dụng nguồn nhân lực (13). Theo định nghĩa của WHO năm 2006: Nhân lực y tế là tất cả những ngƣời mà hoạt động của họ mục đích nhằm nâng cao sức khoẻ.
Theo đó nhân viên y tế bao gồm những ngƣời cung cấp dịch vụ y tế: Bác sỹ, dƣợc sỹ, điều dƣỡng, kỹ thuật viên, những ngƣời quản lý và nhân viên khác nhƣ kế toán, cấp dƣỡng, lái xe…(3). Nhƣ vậy mọi nhân viên của bệnh viện đều là nhân lực y tế. Ở Việt Nam các nhóm đối tƣợng đƣợc coi là nhân lực y tế bao bồm các cán bộ, NVYT thuộc biên chế và hợp đồng đang trong hệ thống y tế công lập, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dƣợc và tất cả những ngƣời khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân, các cộng tác viên y tế, lƣơng y, bà đỡ, mụ vƣờn… (13). Nguồn nhân lực y tế đƣợc hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con ngƣời tích lũy đƣợc, có khả năng đem lại thu nhập của các cá nhân trong tƣơng lai và lợi ích của xã hội thông qua cung cấp dịch vụ y tế.
Khi nói đến nguồn nhân lực y tế ngƣời ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của việc cung cấp dịch vụ y tế. Chất lƣợng nguồn nhân lực phản ánh ở kiến thức, kỹ năng và thái độ của NVYT trong việc cug cấp dịch vụ y tế (1). Nhân lực y tế dự phòng NNL y tế dự phòng (YTDP) đƣợc sử dụng trong các hoạt động mang tính chất chuyên môn, kỹ thuật đặc thù của ngành YTDP phục vụ nhu cầu hiện tại và tƣơng lai về chăm sóc sức khỏe thông qua phòng ngừa các loại bệnh tật của ngƣời dân (19). Theo Thông tƣ liên tịch số 10/2015/TTLT-BYT-BNV của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ quy định chức danh Bác sỹ YHDP là các chức danh có mã số là V.02… còn các chức danh khác nhƣ điều dƣỡng, hộ sinh, y tế công cộng trong lĩnh vực dự phòng thì có mã số tƣơng tự nhƣ bên điều trị (20).
Quản lý nhân lực Quản lý nhân lực là quá trình động viên, khuyến khích để khơi dậy các tiềm năng và bản chất tốt đẹp của con ngƣời nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra (1). 6 Trong hệ thống y tế, QLNL là bất kì hoạt động nào, một hệ thống hoặc chính sách nào dẫn đến việc đào tạo kĩ năng, kiến thức, thái độ và sử dụng cán bộ, bố trí và phân công nhiệm vụ hiệu quả hơn để góp phần tăng cƣờng sức khỏe cộng đồng. Quản lý NLYT là tìm đƣợc CBYT với những kĩ năng thích hợp cho những vị trí công tác phù hợp, nhằm sử dụng, thúc đẩy, phát triển và duy trì một lực lƣợng lao động làm việc có hiệu suất cao trong tổ chức (2). Quản lý NNL liên quan đến tất cả các vấn đề về con ngƣời nhƣ quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân viên nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao cho cả tổ chức lẫn nhân viên.
Tất cả nhằm mục đích ―Đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của ngƣời lao động; tạo điều kiện cho mỗi ngƣời phát huy tối đa các tiềm năng cá nhân; đƣợc động viên, khuyến khích nhiều nhất tại nơi làm việc, trên cơ sở đó ngƣời lao động trung thành, tận tâm, cống hiến hết mình cho tổ chức‖ (1). Công tác quản lý NNL bao gồm: Tuyển dụng, đào tạo, các chế độ chính sách hỗ trợ cho việc hoạt động của NNL.