CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÂN LỰC TẠI CÁC CƠ QUAN SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu trong về kiểm toán và quản lý nguồn nhân lực được công bố; Các công trình khoa học ở trong nước liên quan đến luận văn như sau: Đoàn Xuân Tiên (2010), “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, kiểm toán viên theo định hướng Chiến lược ph át triển cơ quan Kiểm toán nhà nước đến năm 2020”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của KTNN, đã có những đóng góp quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của KTNN; trên cơ sở xác định được những vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức theo mục tiêu chiến lược, đề tài đã đề xuất các giải pháp về nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức theo định hướng chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020 [18]. Có thể tham khảo, vận dụng để nâng cao chất lượng công tác đào tạo nhân lực. Hà Thị Mỹ Dung (2015), “Nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm toán viên của Kiểm toán nhà nước”, Luận án Tiến sĩ, đã có nhiều thành công trong việc nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao chất lượng đội ngũ KTV nhà nước.
Tác giả đã chỉ rõ các yếu tố cấu thành chất lượng đội ngũ KTV nhà nước và đã đề xuất các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ KTV nhà nước: (1) Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của mỗi KTV nhà nước: Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của KTV nhà nước; (2) Số lượng và cơ cấu đội ngũ KTV nhà nước: Số lượng KTV nhà nước, cơ cấu về ngạch, cơ cấu về ngành nghề đào tạo; (3) Năng lực của KTV nhà nước: Trình 4 độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, tình trạng sức khỏe (thể chất tâm lý); (4) Khả năng hoàn thành nhiệm vụ của KTVnhà nước [4]. Có thể tham khảo, vận dụng để nâng cao chất lượng công tác đào tạo nhân lực. Trần Thị Vân (2016) trong luận văn thạc sĩ “Quản lý đội ngũ cán bộ, công chức tại Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn” [21] đã đi sâu phân tích đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đội ngũ cán bộ công chức tại Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Có thể tham khảo kinh nghiệm trong quản lý nguồn nhân lực tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho công tác quản lý nguồn nhân lực tại Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành IV.
Khoảng trống nghiên cứu tiếp theo Qua tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây về chủ đề này cho thấy các công trình nghiên cứu đều làm rõ được sự cần thiết và tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Một số công trình cũng đã đề cập đến vấn đề chất lượng của đội ngũ kiểm toán viên của KTNN dưới góc độ cơ cấu, phẩm chất, năng lực chuyên môn.Tuy nhiên, tác giả nhận thấy một số vấn đề sau đây chưa được nghiên cứu: - Chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về lĩnh vực quản lý nhân lực tại KTNN có chức năng chính là kiểm toán các dự án đầu tư như KTNN chuyên ngành IV. - Chưa có những nghiên cứu về sự thay đổi của môi trường hoạt động, trong bối cảnh các Doanh nghiệp nhà nước đang cổ phần mạnh mẽ và những nhân tố của cách mạng công nghiệp 4.0 tác động đến quản lý nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước. Với những khoảng trống về lý luận và thực tiễn trên đây, chủ đề nghiên cứu “Quản lý nhân lực tại Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV” sẽ đi sâu 5 nghiên cứu về hoạt động nâng cao công tác quản lý NNL với vấn đề cụ thể của KTNN chuyên ngành IV trong bối cảnh các Doanh nghiệp nhà nước đang cổ phần mạnh mẽ và những nhân tố của cách mạng công nghiệp 4.0 tác động đến quản lý nguồn nhân lực kiểm toán nhà nước và đòi hỏi ngày càng cao của Quốc Hội, nhân dân kỳ vọng vào KTNN, nhất là KTNN chuyên ngành IV với chức năng chủ yếu là kiểm toán hạ tầng giao thông.
Cơ sơ lý luận về công tác quản lý nhân lực của các cơ quan sự nghiệp công lập và làm rõ tại KTNN 1. Khái niệm nhân lực Từ quan điểm nhân lực của tổ chức là tất cả những người làm việc trong tổ chức đó, có thể hiểu nhân lực là tất cả những người làm việc trong cơ quan tổ chức. Nhân lực tại các cơ quan sự nghiệp công lập bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động;. Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức: - Cán bộ: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Đây là bộ phận giữ vị trí lãnh đạo cơ quan [14]. - Công chức: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng. Theo quy định của Luật Viên chức: 6 - Viên chức: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Ở KTNN, bộ phận này làm việc ở các đơn vị sự nghiệp của KTNN.
KTNN là đơn vị công lập do Quốc hội thành lập nên nhân lực của KTNN có các đặc điểm chung của đơn vị công lập. Ngoài ra do KTNN là cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập nên nhân lực đặc điểm riêng. Theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước: - KTV nhà nước: KTV nhà nước là công chức nhà nước được bổ nhiệm vào ngạch kiểm toán để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Chức danh KTV nhà nước gồm các ngạch: Kiểm toán viên; KTV chính; KTV cao cấp [17].
Đây là bộ phận trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Bộ phận này chủ yếu làm việc ở các đơn vị KTNN chuyên ngành, KTNN khu vực. Ngoài ra, KTNN còn một bộ phận người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động. Từ sự phân tích trên đây, có thể đưa ra định nghĩa về nhân lực tại các các cơ quan sự nghiệp công lập như sau: Nhân lực tại các cơ quan sự nghiệp công lập là tổng thể số lượng cán bộ, công chức, viên chức với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và tâm lực tạo nên năng lực mà bản thân họ và cơ quan đã, đang và sẽ huy động vào quá trình thực hiện nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Đặc điểm nguồn nhân lực của các cơ quan sự nghiệp công lập và làm rõ tại KTNN Nguồn nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập có các đặc điểm chính như sau: Thứ nhất: Cán bộ là những người được bầu cử hoặc phê chuẩn để bổ 7 nhiệm vào các vị trí lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước và thuộc biên chế của một cơ quan, đơn vị và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; Công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm, quản lý và sử dụng theo chỉ tiêu biên chế được giao và quy định của pháp luật; được hưởng lương và các thu nhập khác từ nguồn ngân sách Nhà nước do Nhà nước thành lập; Thứ hai: Là những người triển khai đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước với tổ chức và công dân, đại diện nhà nước để thực thi công vụ; là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân; Thứ ba: Nhân lực có tính ổn định khá cao, có số lượng tương đối lớn, chất lượng cao, được đào tạo đầy đủ về chuyên môn, chính trị, quản lý nhà nước. Đặc điểm NNL của KTNN - Để có cơ sở cho việc hoạch định đúng đắn các chính sách phát triển và sử dụng có hiệu quả nhân lực, cần làm rõ các đặc điểm NNL tại KTNN. Những đặc điểm chủ yếu của NNL KTNN Việt Nam, bao gồm: Một là, nhân lực tại KTNN liên quan trực tiếp hoạt động kiểm tra, giám sát của Nhà nước về tài chính, tài sản công` Hai là, yêu cầu cao về trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp Nghề nghiệp kiểm toán yêu cầu cao về trình độ chuyên môn và đòi hỏi điểm xuất phát cao về trình độ so với các ngành nghề khác. Ba là, có xu hướng trẻ hóa và phát triển nhanh chóng Do KTNN là hoạt động mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1994, trước khi thành lập cơ quan KTNN, chưa có cơ quan nào trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của KTNN.
Do vậy, công tác xây dựng nhân lực tại KTNN phải tiến hành từ đầu; được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhân lực tại KTNN đã có sự phát triển nhanh chóng cả về quy mô và cơ cấu; đồng thời, có xu hướng trẻ hóa, nhất là sau những đợt KTNN tổ chức 8 thi tuyển công chức vào KTNN. Bốn là, luôn phải đối mặt với nhiều cám dỗ, rủi ro Hoạt động kiểm toán thường được thực hiện tại trụ sở đơn vị được kiểm toán – là các cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công. Do vậy, KTV nhà nước thường xuyên phải đi công tác xa nhà, xa cơ quan dài ngày, phân tán trên địa bàn rộng, tiềm ẩn nhiều rủi ro về chuyên môn, phẩm chất đạo đức của KTV. Kết luận, kiến nghị của KTV liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của đơn vị được kiểm toán và tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công, nên luôn đối diện với hành vi mua chuộc, hối lộ từ các bên có liên quan.