Tổng quan nghiên cứu

Trong làn sóng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ngành công nghiệp công nghệ thông tin đã trở thành động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa quản trị đô thị. Tại thành phố Đà Nẵng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XI nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã xác định công nghiệp công nghệ cao và công nghệ thông tin là một trong ba mũi đột phá phát triển kinh tế - xã hội. Mặc dù tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của Đà Nẵng giai đoạn 2012 - 2018 duy trì ấn tượng ở mức 8 - 9%/năm và GRDP bình quân đầu người năm 2018 đạt 3.391 USD, tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp công nghệ thông tin vào GRDP địa phương vẫn còn khiêm tốn, chỉ xấp xỉ 5%. Thành phố sở hữu hạ tầng kết nối viễn thông quốc tế vượt trội với các tuyến cáp quang biển SMW3 và APG đạt tổng dung lượng băng thông lên tới 210 Gbps, song hiệu quả khai thác và hỗ trợ doanh nghiệp của bộ máy quản lý nhà nước vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ những bất cập trong cơ chế chính sách, công tác quy hoạch không gian phát triển, và sự phối hợp liên ngành trong quản lý nhà nước đối với ngành công nghiệp công nghệ thông tin. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với ngành kinh tế kỹ thuật cao cấp tỉnh; phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2013 - 2017; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có giá trị ứng dụng thực tiễn cho giai đoạn 2019 - 2025. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học giúp chính quyền địa phương hoàn thiện thể chế, tối ưu hóa các chỉ số thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thúc đẩy tỷ trọng kinh tế số đóng góp vào tăng trưởng bền vững của thành phố cảng miền Trung.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp của hai lý thuyết kinh tế và quản lý hiện đại:

  • Lý thuyết quản lý kinh tế nhà nước: Xác định vai trò của nhà nước trong việc can thiệp, điều tiết thị trường thông qua các công cụ pháp lý, quy hoạch chiến lược, chính sách tài khóa và dịch vụ hành chính công nhằm khắc phục các thất bại thị trường và tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, cạnh tranh lành mạnh.
  • Lý thuyết định vị và cụm liên kết ngành (Location and Industrial Cluster Theory): Được mở rộng từ các nghiên cứu về chuỗi cung ứng dịch vụ phần mềm toàn cầu tại các trung tâm công nghệ quốc tế, lý thuyết này giải thích động lực tập trung không gian của các doanh nghiệp gia công quy trình kinh doanh (BPO) và gia công phần mềm (ITO) xung quanh các khu công viên phần mềm tập trung nhằm tận dụng tính kinh tế nhờ quy mô và hiệu ứng lan tỏa tri thức.

Khung phân tích của đề tài chuẩn hóa 4 khái niệm cốt lõi theo Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 và Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ:

  1. Công nghiệp công nghệ thông tin: Ngành kinh tế kỹ thuật công nghệ cao sản xuất và cung ứng các sản phẩm phần cứng, điện tử, phần mềm, nội dung số và dịch vụ công nghệ thông tin.
  2. Quản lý nhà nước về công nghiệp công nghệ thông tin cấp tỉnh: Hoạt động thực thi quyền lực hành chính nhà nước của Ủy ban nhân dân và các sở chuyên ngành nhằm điều chỉnh các hành vi sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế số theo định hướng địa phương.
  3. Hạ tầng công nghệ thông tin tập trung: Hệ thống không gian kỹ thuật đồng bộ gồm khu công viên phần mềm, khu công nghệ cao và hệ thống truyền dẫn cáp quang phục vụ sản xuất sản phẩm số.
  4. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: Mạng lưới tương tác giữa cơ quan nhà nước, quỹ đầu tư, vườn ươm doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu đào tạo nhằm nuôi dưỡng các dự án công nghệ tiềm năng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan khoa học:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập toàn diện số liệu thống kê giai đoạn 5 năm liên tục từ 2013 đến 2017 từ Cục Thống kê, Sở Thông tin và Truyền thông thành phố Đà Nẵng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ Công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA), cùng các báo cáo chuyên đề của Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO).
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực chứng thông qua bảng hỏi chuẩn hóa đối với mẫu gồm 19 doanh nghiệp công nghệ thông tin đang hoạt động trên địa bàn. Cơ cấu mẫu phân bổ đa dạng gồm 7 doanh nghiệp FDI (chiếm 36,8%) và 12 doanh nghiệp nội địa (chiếm 63,2%). Xét theo chuyên ngành hoạt động, mẫu bao gồm: 7 doanh nghiệp phần mềm (36,8%), 4 doanh nghiệp dịch vụ công nghệ thông tin (21,1%), 3 doanh nghiệp nội dung thông tin số (15,9%), 3 doanh nghiệp thương mại và phân phối thiết bị (15,8%) và 2 doanh nghiệp phần cứng, điện tử (10,5%).
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (purposive stratified sampling) nhằm đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ 5 phân ngành kinh tế công nghệ thông tin then chốt của thành phố.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian đối chiếu các chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng doanh thu, kết hợp phương pháp tổng hợp phân tích chính sách pháp luật. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp này nhằm đối chiếu trực tiếp giữa khung quy định pháp lý hiện hành với mức độ thụ hưởng thực tế của cộng đồng doanh nghiệp, từ đó nhận diện chính xác các điểm nghẽn chính sách trong giai đoạn nghiên cứu 2013 - 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng đã làm sáng tỏ 4 phát hiện quan trọng về bức tranh phát triển và công tác quản lý nhà nước ngành công nghiệp công nghệ thông tin tại Đà Nẵng:

Thứ nhất, quy mô toàn ngành tăng trưởng liên tục nhưng tỷ trọng đóng góp vào cơ cấu kinh tế địa phương vẫn ở mức thấp. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu phần mềm giai đoạn 2013 - 2017 đạt mức tăng trưởng ổn định trên 15%/năm, giá trị gia tăng của ngành công nghiệp công nghệ thông tin chỉ đóng góp khoảng 5% vào tổng GRDP thành phố. Doanh thu toàn ngành chủ yếu tập trung vào mảng gia công dịch vụ, trong khi công nghiệp phần cứng điện tử và sản xuất vi mạch chưa phát triển tương xứng với kỳ vọng đột phá.

Thứ hai, phát triển hạ tầng kỹ thuật viễn thông đạt thành tựu vượt bậc nhưng hạ tầng mặt bằng sản xuất tập trung bị quá tải nghiêm trọng. Thành phố đã xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng mạng đô thị MAN và sở hữu 2 trạm cập bờ cáp quang biển quốc tế với băng thông 210 Gbps. Tuy nhiên, diện tích sàn tại Khu Công viên phần mềm Đà Nẵng số 1 đã lấp đầy 100% công suất sử dụng, trong khi các dự án trọng điểm như Khu Công viên phần mềm số 2 và Khu Công nghệ thông tin tập trung Đà Nẵng triển khai chậm tiến độ, tạo rào cản lớn cho việc mở rộng quy mô của các doanh nghiệp.

Thứ ba, nguồn nhân lực công nghệ thông tin bộc lộ mâu thuẫn lớn giữa số lượng và chất lượng thực tế. Hàng năm, 25 trường đại học và cao đẳng trên địa bàn cung cấp khoảng 3.600 cử nhân và kỹ sư công nghệ thông tin (2.100 người tốt nghiệp đại học và 1.500 người tốt nghiệp cao đẳng). Mặc dù lực lượng lao động qua đào tạo của thành phố đạt 40% trên tổng số 567.646 lao động, khảo sát thực tế cho thấy các doanh nghiệp vẫn thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực trình độ cao, chuyên gia quản trị dự án, và kỹ sư thành thạo ngoại ngữ chuyên ngành.

Thứ tư, hiệu quả thụ hưởng chính sách ưu đãi của doanh nghiệp còn rất hạn chế. Kết quả khảo sát 19 doanh nghiệp cho thấy có tới hơn 60% doanh nghiệp chưa tiếp cận hoặc chưa thụ hưởng được các gói hỗ trợ từ Quyết định số 10/2015/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố do thủ tục hành chính phức tạp, tiêu chí xét duyệt chưa sát với đặc thù sản xuất phần mềm và quy trình thanh tra, kiểm tra còn thiếu tính đồng bộ giữa các cơ quan quản lý.

Toàn bộ hệ thống dữ liệu nghiên cứu được tác giả cấu trúc và trực quan hóa chi tiết thông qua hệ thống 7 bảng số liệu thống kê phân ngành và 12 hình vẽ mô hình quy hoạch không gian, giúp phân định rõ nét sự biến động của từng chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật theo chuỗi thời gian.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ việc công tác quản lý nhà nước tại địa phương còn mang tính phân tán, thiếu sự gắn kết hữu cơ giữa các sở chuyên ngành như Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính và Sở Khoa học và Công nghệ. Cơ chế truyền thông chính sách chủ yếu thực hiện một chiều qua văn bản hành chính, chưa thiết lập được kênh đối thoại số đa chiều để tháo gỡ vướng mắc cho các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Khi so sánh với bài học quốc tế, thành công của Philippines trong việc chiếm lĩnh thị trường dịch vụ thuê ngoài quy trình kinh doanh (BPO) đến từ chính sách miễn thuế thu nhập từ 4 đến 6 năm và cho phép khấu trừ 50% chi phí tiền lương trực tiếp vào thu nhập chịu thuế. Tại Trung Quốc, quốc gia chiếm khoảng 24,5% thị phần xuất khẩu sản phẩm công nghệ thông tin toàn cầu, nhà nước áp dụng chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng ngay lập tức khi thuế suất vượt 3% và bắt buộc chuyển giao công nghệ đối với các dự án FDI. Tương tự, mô hình trung tâm công nghệ Bangalore của Ấn Độ khẳng định vai trò quyết định của việc khấu trừ 100% doanh thu xuất khẩu trong 5 năm đầu tại các đặc khu kinh tế. Đối chiếu với các mô hình trên, chính sách của Đà Nẵng vẫn thiên về ưu đãi chung chung mà thiếu các gói đòn bẩy tài chính tập trung vào giá trị gia tăng xuất khẩu và chi phí nghiên cứu phát triển (R&D).

Ý nghĩa sâu sắc của các phát hiện này chỉ ra rằng: Để biến công nghệ thông tin thành ngành kinh tế mũi nhọn, cơ quan quản lý nhà nước thành phố Đà Nẵng phải chuyển đổi căn bản từ tư duy cấp phép quản lý hành chính truyền thống sang tư duy kiến tạo phát triển, chủ động dẫn dắt thị trường và hoàn thiện hạ tầng số dùng chung.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu và mục tiêu phát triển kinh tế địa phương giai đoạn 2019 - 2025, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước:

  1. Hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư: Rà soát, sửa đổi toàn diện Quyết định số 10/2015/QĐ-UBND theo hướng đơn giản hóa thủ tục tiếp cận quỹ hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ; ban hành chính sách hỗ trợ giảm từ 30% đến 50% giá thuê mặt bằng trong 3 năm đầu cho doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ thông tin; chủ thể chủ trì thực hiện là Ủy ban nhân dân thành phố phối hợp cùng Hội đồng nhân dân thành phố, hoàn thành ban hành trong giai đoạn 2019 - 2021.
  2. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng các khu công nghệ tập trung: Tập trung nguồn vốn ngân sách và xúc tiến mô hình hợp tác công tư (PPP) để hoàn thiện đưa vào khai thác Khu Công viên phần mềm số 2 và Khu Công nghệ thông tin tập trung Đà Nẵng; phấn đấu đạt chỉ tiêu thu hút tối thiểu 50 doanh nghiệp FDI quy mô vừa và lớn, tạo thêm 15.000 việc làm kỹ thuật cao đến năm 2025; cơ quan chịu trách nhiệm là Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Chế xuất phối hợp cùng Sở Thông tin và Truyền thông.
  3. Đổi mới phương thức truyền thông chính sách và xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp: Thiết lập cổng thông tin điện tử tương tác hai chiều kết nối trực tuyến giữa chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp công nghệ số; số hóa 100% cơ sở dữ liệu doanh nghiệp và sản phẩm phần mềm địa phương phục vụ công tác thống kê dự báo; thời gian thực hiện liên tục từ 2019 đến 2023 dưới sự chủ trì của Sở Thông tin và Truyền thông.
  4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với liên kết ba nhà: Triển khai đề án hợp tác đào tạo giữa Nhà nước - Trường đại học - Doanh nghiệp; trích ngân sách hỗ trợ 50% kinh phí cho các chương trình đào tạo chứng chỉ công nghệ quốc tế và kỹ năng mềm; mục tiêu nâng tổng số lao động làm việc trong ngành công nghiệp công nghệ thông tin toàn thành phố lên mức 35.000 người vào năm 2025; Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các trường đại học thành viên Đại học Đà Nẵng thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao và là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và thành phố: Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Ủy ban nhân dân các địa phương có thể sử dụng các phát hiện và khung giải pháp của đề tài để xây dựng quy hoạch tổng thể, ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số sát hợp với điều kiện thực tế.
  2. Cộng đồng doanh nghiệp công nghệ thông tin và các hiệp hội ngành nghề: Các hiệp hội như VINASA, VNITO cùng ban lãnh đạo doanh nghiệp phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin có thể nắm bắt bức tranh toàn cảnh về hành lang pháp lý, định hướng quy hoạch mặt bằng tập trung và các cơ chế ưu đãi thuế để xây dựng chiến lược kinh doanh và mở rộng đầu tư giai đoạn 2019 - 2025.
  3. Các trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu: Ban giám hiệu và khoa đào tạo công nghệ thông tin tại các cơ sở giáo dục đại học có thể ứng dụng số liệu khảo sát về khoảng cách cung - cầu nhân lực để tái cấu trúc chương trình đào tạo, tăng cường hàm lượng thực hành và kỹ năng hội nhập quốc tế cho hơn 3.600 sinh viên tốt nghiệp mỗi năm.
  4. Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế: Cung cấp khung lý thuyết mẫu mực, phương pháp thiết kế bảng hỏi khảo sát thực chứng và quy trình phân tích định lượng kết hợp kinh nghiệm quốc tế, đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học giá trị cho các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với các ngành kinh tế công nghệ cao.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm nghẽn lớn nhất trong công tác quản lý nhà nước về công nghiệp công nghệ thông tin tại Đà Nẵng giai đoạn 2013 - 2017 là gì? Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở sự thiếu đồng bộ giữa chính sách ưu đãi và hạ tầng thực tế. Mặc dù thành phố ban hành Quyết định số 10/2015/QĐ-UBND, hơn 60% doanh nghiệp khảo sát không tiếp cận được hỗ trợ do rào cản thủ tục hành chính phức tạp, cộng với tình trạng quá tải mặt bằng tại Khu Công viên phần mềm số 1 khiến các doanh nghiệp khó mở rộng quy mô.

  2. Luận văn đã rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế nào có tính ứng dụng cao nhất cho Đà Nẵng? Bài học trọng tâm là cơ chế ưu đãi thuế gắn liền với kết quả đầu ra như mô hình miễn thuế thu nhập 4 đến 6 năm cho ngành BPO tại Philippines và khấu trừ thuế theo doanh thu xuất khẩu tại Ấn Độ. Đà Nẵng cần chuyển từ chính sách hỗ trợ chung sang các gói đòn bẩy tài chính trực tiếp dựa trên kim ngạch xuất khẩu phần mềm và tỷ lệ nhân lực R&D.

  3. Tại sao nguồn nhân lực công nghệ thông tin tại Đà Nẵng lại rơi vào tình trạng vừa thừa vừa thiếu? Thành phố đào tạo khoảng 3.600 sinh viên công nghệ thông tin mỗi năm từ 25 cơ sở đào tạo, nhưng phần lớn cử nhân mới tốt nghiệp thiếu kỹ năng làm việc thực tế, ngoại ngữ chuyên ngành và các chứng chỉ kỹ thuật quốc tế. Doanh nghiệp dư thừa lao động phổ thông nhưng thiếu hụt chuyên gia quản trị dự án và lập trình viên cao cấp.

  4. Hạ tầng viễn thông Đà Nẵng có lợi thế cạnh tranh gì nổi bật so với các địa phương khác? Đà Nẵng sở hữu vị trí địa lý chiến lược sát biển, là trạm cập bờ của 2 tuyến cáp quang quốc tế lớn SMW3 và APG với tổng dung lượng lên đến 210 Gbps, kết nối trực tiếp với các trung tâm công nghệ Châu Á. Đây là lợi thế cạnh tranh cốt lõi giúp thành phố phát triển mạnh các dịch vụ xuất khẩu số.

  5. Cỡ mẫu 19 doanh nghiệp trong khảo sát có đảm bảo tính đại diện cho ngành công nghệ thông tin địa phương không? Mẫu khảo sát 19 doanh nghiệp được chọn theo phương pháp phân tầng có chủ đích, đại diện đầy đủ 5 phân ngành từ phần mềm (36,8%), dịch vụ công nghệ thông tin (21,1%), nội dung số (15,9%), phân phối thiết bị (15,8%) đến phần cứng điện tử (10,5%), bao gồm cả khối FDI và nội địa, phản ánh chuẩn xác các đặc trưng quản lý kinh tế của toàn ngành.

Kết luận

  • Ngành công nghiệp công nghệ thông tin thành phố Đà Nẵng sở hữu tiềm năng hạ tầng băng thông 210 Gbps vượt trội nhưng tỷ trọng đóng góp vào GRDP giai đoạn 2013 - 2017 mới chỉ dừng lại ở mức khiêm tốn xấp xỉ 5%.
  • Công tác quản lý nhà nước còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về thủ tục thực thi chính sách, tình trạng chậm tiến độ các khu công viên phần mềm tập trung và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của 3.600 sinh viên tốt nghiệp hàng năm.
  • Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý kinh tế cấp tỉnh, tổng hợp bài học quản trị thành công từ Philippines, Ấn Độ, Trung Quốc và đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao.
  • Hệ thống giải pháp tập trung vào hoàn thiện thể chế ưu đãi thuế, đẩy nhanh tiến độ hạ tầng Khu Công viên phần mềm số 2, số hóa cơ sở dữ liệu quản lý và đào tạo nguồn nhân lực đạt mục tiêu 35.000 lao động đến năm 2025.
  • Chính quyền thành phố Đà Nẵng và các cơ quan ban ngành cần nhanh chóng chuyển đổi sang mô hình quản trị kiến tạo, ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể giai đoạn 2019 - 2025 để đưa công nghiệp công nghệ thông tin trở thành ngành kinh tế mũi nhọn dẫn dắt sự thịnh vượng của địa phương.