Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức Qua quá trình tìm hiểu thực tế và tra cứu tại thư viện, website công trình nghiên cứu khoa học, tôi tham khảo các tác giả có các công trình nghiên cứu về quản lý nhân lực có liên quan như: - Lê Minh Huệ, 2012. Quản lý nguồn nhân lực của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật.
Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực và phân tích tình hình quản lý nguồn nhân lực của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật. Dựa trên những ưu điểm, nhược điểm được phát hiện, tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nguồn nhân lực của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật trong thời gian tới. - Trần Phước Huy, 2012.
Hoàn thiện quản trị nguồn nhân lực tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Luận văn tiếp cận đầy đủ với các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, phương pháp nghiên cứu khá đầy đủ và thu thập số liệu chi tiết từ các nghiên cứu bảng câu hỏi của chính đơn vị tác giả công tác. Tuy nhiên cách tiếp cận về vấn đề quản lý nhân lực (như hoạch định, phân tích công việc, tuyển chọn, đánh giá nhân viên, khen thưởng, kỷ luật, trả lương, quan hệ lao động,…) vẫn có những điểm khác so với chuyên ngành quản lý kinh tế.
Mà cụ thể, khi tiếp cận vấn đề quản lý nhân lực dưới góc độ quản lý kinh tế thì cần làm rõ 3 6 vấn đề chính: xác định kế hoạch quản lý, triển khai quản lý (đào tạo, tuyển dụng,…) và kiểm tra giám sát. Phát triển nguồn nhân lực của Tập đoàn điện lực Việt Nam đến năm 2015, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Tác giả đã hệ thống hóa, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về việc phát triển nguồn nhân lực trong tập đoàn kinh tế. Từ cơ sở đó, tác giả bàn về các giải pháp phát triển nguồn nhân lực của Tập đoàn điện lực Việt Nam đến năm 2015, góp phần nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất - kinh doanh của đơn vị nghiên cứu.
Một số giải pháp thu hút và duy trì nguồn nhân lực tại công ty TNHH linh kiện điện tử Sanyo OPT Việt Nam, luận văn thạc sỹ, Trường Đại Học Kinh tế quốc dân. Luận văn tập trung khá nhiều vào phần lý luận và thực trạng, các chính sách thương mại của nhà nước được nghiên cứu có đầy đủ và có hệ thống. Tuy nhiên, luận văn của tác giả vẫn chưa đạt sự cân đối giữa nội dung các phần của đề tài: tác giả phân tích và dành nhiều công sức phân tích lý luận và thực trạng từ đó mà phần giải pháp đưa ra vẫn chưa thực tế và có tính áp dụng cao. - Lê Trí Hà, 2015.
Quản trị nhân sự tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Đá cẩm thạch RK Việt Nam, luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế - Đại Học Quốc gia Hà Nội. Luận văn có kết cấu rõ ràng và khoa học. Nội dung của quản lý nhân lực được tác giả nghiên cứu và thể hiện khá tỉ mỉ, đó cũng là lý do mà phần giải pháp cũng được làm khá tốt. Các kiến nghị, đề xuất và giải pháp được đưa ra dựa trên cơ sở thực tiễn và có tính thuyết phục cao.
Mặc dù, luận văn trên vẫn chưa làm rõ những tồn tại trong công tác quản lý nhân lực và sự cần thiết phải thay đổi nhưng cũng là một tham khảo cần thiết cho những nghiên cứu của tôi trong đề tài nghiên cứu này. 7 - Nguyễn Thị Kim Ngọc, 2015. Quản lý nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần điện lực, luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã sử dụng cơ sở lý luận và thực tiễn đó để phân tích thực trạng quản lý nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần điện lực để chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác này.
Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Ở những khía cạnh khác nhau, các công trình nghiên cứu đề cấp đến nhiều vấn để có liên quan đến nguồn nhân lực cán bộ của: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Tập đoàn điện lực Việt Nam, công ty cổ phần điện lực, công ty đá cẩm thạch RK Việt Nam, ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, … Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu về nguồn nhân lực đi sâu vào hai khía cạnh là chất lượng chuyên môn và phẩm chất đạo đức có tính chất chung nhất; nói cách khác là tiếp cận nguồn nhân lực mang tính chất chung, tổng hợp. Tuy nhiên, trong mỗi khâu công việc hoạt động ngân hàng như trong quan hệ với khách hàng, hoạt động của giao dịch viên, công tác bán hàng và chăm sóc khách hàng của chuyên viên tư vấn, công tác kiểm soát rủi ro, quản lý tín dụng, kế toán, quỹ và hành chính thì yêu cầu về quản lý nguồn nhân lực có những nét khác biệt. Điều này hầu như chưa được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu đã công bố. Cơ sở lý luận về quản lý nhân lực tại các ngân hàng thương mại 1.
Một số khái niệm cơ bản * Nguồn nhân lực Khái niệm "lực lượng lao động" được sử dụng rất phổ biến và có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam chúng ta có một lực lượng lao động dồi dào (do tính theo khái niệm người trong độ tuổi lao động). Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực 8 Trường Đại học kinh tế quốc dân năm 2012, nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Nhân lực chính là tổng hợp bao gồm khả năng về sinh học, sức khỏe, nhận thức, phẩm chất đạo đức, kỹ năng lao động, ý thức nghề nghiệp,. trong nội tại mỗi con người.
Từ sau đổi mới đến nay, con người được coi là một "tài nguyên đặc biệt", một nguồn lực của sự phát triển kinh tế nên việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề trung tâm trong hệ thống phát triền các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự thịnh vượng, phát triển của mỗi quốc gia. Đầu tư cho nhân lực là đầu tư có tính chiến lược lâu dài, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững. Về cơ bản, nguồn nhân lực của một quốc gia hay của một ngành là tổng thể những tiềm năng lao động của con người có trong một thời kỳ nhất định, phù hợp với kế hoạch và chiến lược phát triển (có thể tính cho 1 năm hay vài năm thậm chí 10 – 20 năm).
Tiềm năng đó là tổng hòa tiềm năng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động có thể phù hợp với cơ cấu lao động cho một nền kinh tế - xã hội nhất định hay cho một tổ chức nào đó. Một số khái niệm nguồn nhân lực mà tác giả tham khảo trước khi đưa ra khái niệm sử dụng trong luận văn này như sau: - Theo lý thuyết phát triển, nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa rộng là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. - Theo chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước, nguồn nhân lực cần được hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực phẩm chất và đạo đức của người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sang để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó.
9 - Theo ngôn ngữ quản trị, nguồn nhân lực được hiểu là tất cả các tiềm năng của con người trong tổ chức hay xã hội (kể cả các thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp), tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những nhà khoa học đi trước, trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tác giả đưa ra khái niệm sử dụng trong luận văn như sau: “ Nguồn nhân lực là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con người tham gia vào tổ chức, có khả năng lao động, sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần để phát triển tổ chức; nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai”. Với định nghĩa trên, nguồn nhân lực là khái niệm động, với một số tổ chức nó không chỉ bao gồm cơ cấu hiện tại mà nó bao gồm cả nguồn lực có khả năng và sẵn sàng tham gia vào tổ chức cũng như số lượng có thể rút lui khỏi tổ chức. * Nguồn nhân lực ngân hàng thương mại Nguồn nhân lực trong ngân hàng là đội ngũ những người thực hiện các nghiệp vụ Ngân hàng đến với khách hàng, cụ thể hơn, đó là những người làm công tác tín dụng, giao dịch viên, quản lý rủi ro, quản trị tín dụng, kế hoạch tổng hợp tài chính kế toán, tổ chức hành chính, bảo vệ, nhân viên vi tính,.
* Quản lý nguồn nhân lực ngân hàng thương mại Quản lý nguồn nhân lực có hàm nghĩa rất rộng. Có thế hiểu, chất lượng nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra cũng như đáp ứng cao nhất nhu cầu của người lao động. Cụ thể hơn, đối với mỗi cá nhân quản lý nguồn nhân lực là những khả năng về sức khỏe, 10 trình độ văn hóa, chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật và thói quen lao động .