Luận văn thực trạng thực hiện quy trình tiêm tĩnh mạch an toàn và một số yếu tố ảnh hưởng của điều dưỡng khoa lâm sàng tại bệnh viện đa khoa khu vực tháp mười tỉnh đồng tháp năm 2021

Luận văn phân tích thực trạng quy trình tiêm tĩnh mạch an toàn và các yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Đa khoa Tháp Mười, Đồng Tháp năm 2021.

Chuyên ngành

Quản lý bệnh viện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

108
9
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Quy trình tiêm tĩnh mạch

Quy trình tiêm tĩnh mạch là một kỹ thuật y tế quan trọng, đặc biệt trong điều trị và cấp cứu. Tại Bệnh viện Đa khoa Tháp Mười, quy trình này được thực hiện với góc tiêm 30 độ so với mặt da, nhằm đảm bảo thuốc tác dụng nhanh chóng. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ điều dưỡng thực hiện đúng quy trình chỉ đạt 62,90%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện tiêm tĩnh mạch an toàn để tránh các rủi ro như lây nhiễm bệnh và biến chứng.

1.1. Thực trạng tiêm tĩnh mạch

Thực trạng tiêm tĩnh mạch tại Bệnh viện Đa khoa Tháp Mười năm 2021 cho thấy nhiều điều dưỡng chưa tuân thủ đúng quy trình. Cụ thể, tiêu chí sát khuẩn vùng tiêm đúng cách chỉ đạt 87,09%, trong khi đây là bước quan trọng để ngăn ngừa nhiễm khuẩn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố như trình độ chuyên môn, kiến thức, và sự giám sát ảnh hưởng lớn đến an toàn tiêm tĩnh mạch.

1.2. Yếu tố ảnh hưởng

Các yếu tố ảnh hưởng tiêm tĩnh mạch bao gồm trình độ chuyên môn, kiến thức, và sự giám sát. Điều dưỡng có trình độ cao hơn thường thực hiện quy trình tốt hơn. Ngoài ra, việc bố trí nhân lực không đồng đều và thiếu phương tiện phù hợp cũng là những rào cản lớn. Những yếu tố này cần được cải thiện để nâng cao tiêm tĩnh mạch an toàn.

II. An toàn tiêm tĩnh mạch

An toàn tiêm tĩnh mạch là mục tiêu hàng đầu trong quy trình y tế tại Bệnh viện Đa khoa Tháp Mười. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc tuân thủ quy trình tiêm không chỉ bảo vệ người bệnh mà còn ngăn ngừa phơi nhiễm cho nhân viên y tế. Tuy nhiên, tỷ lệ điều dưỡng thực hiện đúng quy trình còn thấp, đặc biệt là trong các bước sát khuẩn và xử lý vật sắc nhọn.

2.1. Tiêu chí an toàn

Các tiêu chí an toàn tiêm tĩnh mạch bao gồm sát khuẩn đúng cách, sử dụng dụng cụ vô khuẩn, và xử lý vật sắc nhọn an toàn. Tại Bệnh viện Đa khoa Tháp Mười, tỷ lệ điều dưỡng thực hiện đúng các tiêu chí này còn thấp, đặc biệt là trong bước sát khuẩn. Điều này cho thấy cần tăng cường đào tạo và giám sát để đảm bảo tiêm tĩnh mạch an toàn.

2.2. Rủi ro tiêm không an toàn

Tiêm không an toàn có thể dẫn đến lây nhiễm các bệnh như viêm gan B, viêm gan C, và HIV. Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Tháp Mười cho thấy việc sử dụng lại kim tiêm và thiếu tuân thủ quy trình là nguyên nhân chính gây ra các rủi ro này. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ quy trình y tế và sử dụng dụng cụ tiêm một lần.

III. Yếu tố ảnh hưởng tiêm tĩnh mạch

Các yếu tố ảnh hưởng tiêm tĩnh mạch tại Bệnh viện Đa khoa Tháp Mười bao gồm trình độ chuyên môn, kiến thức, và điều kiện làm việc. Nghiên cứu chỉ ra rằng điều dưỡng có trình độ cao hơn thường thực hiện quy trình tốt hơn. Ngoài ra, việc bố trí nhân lực không đồng đều và thiếu phương tiện phù hợp cũng là những rào cản lớn.

3.1. Trình độ chuyên môn

Trình độ chuyên môn là một trong những yếu tố ảnh hưởng tiêm tĩnh mạch quan trọng. Điều dưỡng có trình độ đại học và cao đẳng thường thực hiện quy trình tốt hơn so với nhóm có trình độ trung cấp. Điều này cho thấy cần tăng cường đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn để đảm bảo tiêm tĩnh mạch an toàn.

3.2. Điều kiện làm việc

Điều kiện làm việc, bao gồm bố trí nhân lực và phương tiện tiêm, cũng ảnh hưởng lớn đến tiêm tĩnh mạch an toàn. Tại Bệnh viện Đa khoa Tháp Mười, việc thiếu phương tiện phù hợp và bố trí nhân lực không đồng đều là những yếu tố cản trở thực hành tiêm an toàn. Cần cải thiện điều kiện làm việc để nâng cao hiệu quả quy trình.

23/02/2025
Luận văn thực trạng thực hiện quy trình tiêm tĩnh mạch an toàn và một số yếu tố ảnh hưởng của điều dưỡng khoa lâm sàng tại bệnh viện đa khoa khu vực tháp mười tỉnh đồng tháp năm 2021

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tiêm là một trong các biện pháp để đưa thuốc, chất dinh dưỡng vào cơ thể nhằm mục đích chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh. Trong điều trị, tiêm có vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong trường hợp người bệnh cấp cứu, người bệnh nặng. Trong lĩnh vực phòng bệnh, chương trình tiêm chủng mở rộng đã tác động mạnh vào việc giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong đối với 6 bệnh truyền nhiễm có thể phòng bằng vắc xin ở trẻ em (1). Tiêm tĩnh mạch là kỹ thuật dùng bơm tiêm đưa một lượng thuốc vào cơ thể theo đường tĩnh mạch với góc tiêm là 300 so với mặt da, nhằm tác dụng nhanh chóng.

Khi tiêm cần chọn tĩnh mạch mềm mại, nổi rõ, không di động, da vùng tiêm còn nguyên vẹn (1). Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có xấp xỉ 16 tỷ mũi tiêm, trong đó 90-95% mũi tiêm nhằm mục đích điều trị và chỉ 5%-10% mũi tiêm dành cho dự phòng (2, 3). Tại các nước đang phát triển có tới 50% các mũi tiêm là chưa đạt tiêu chí về mũi tiêm an toàn (2, 4). Bên cạnh đó, tiêm không an toàn còn gây nguy hại làm lây truyền các bệnh viêm gan B, viêm gan C và lây nhiễm HIV (5).

Năm 2014, một nghiên cứu ước tính có 1,67 triệu trường nhiễm viêm gan B, 315.120 trường hợp nhiễm Viêm gan C và 33.877 trường hợp nhiễm HIV liên quan đến tiêm không an toàn (6). Năm 2018, ở Nam Á, hai đợt bùng phát HIV có liên quan đến việc thực hành tiêm không an toàn và những vi phạm trong thực hành kiểm soát lây nhiễm (7). Tại Việt Nam, mũi tiêm không an toàn tại các cơ sở y tế đã gây ra hậu quả làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe không chỉ người bệnh mà còn ảnh hưởng đến nhân viên y tế và cả cộng đồng xung quanh. Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và uy tín khám chữa bệnh của ngành y tế (8).

Theo kết quả khảo sát của Hội Điều dưỡng Việt Nam đã phát động phong trào tiêm an toàn (TAT) trong toàn quốc đồng thời tiến hành những khảo sát về thực trạng TAT vào những thời điểm khác nhau năm 2002, năm 2005 và năm 2008, phần lớn nhân viên y tế chưa tuân thủ về quy trình kỹ thuật và các thao tác trong kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) trong thực hành tiêm (vệ sinh tay, mang găng, sử dụng panh, phân loại và thu gom vật sắc nhọn sau tiêm dùng tay để đậy nắp kim sau tiêm…), chưa có báo cáo và theo 2 dõi rủi ro do vật sắc nhọn chiếm 87,70% (9). Nghiên cứu của Lâm Quốc Tuấn tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Cái Nước, Cà Mau năm 2015, tỉ lệ thực hành đạt về tiêm tĩnh mạch là 59,60% và tìm thấy yếu tố liên quan giữa nhóm điều dưỡng (ĐD) không được cập nhật kiến thức với nhóm ĐD thực hành tiêm tĩnh mạch không đạt cao gấp 7,1 lần (10). Kết quả nghiên cứu của La Thanh Chí Hiếu tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ năm 2019, tỉ lệ mũi tiêm tĩnh mạch an toàn đạt là 61,40%, nhóm ĐD có trình độ đại học và cao đẳng thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn đạt cao gấp 2 lần so với nhóm ĐD có trình độ trung cấp (11). Từ các nghiên cứu chỉ ra rằng thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của ĐD tại các bệnh viện còn nhiều hạn chế và có mối liên quan khác nhau.

Tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tháp Mười, hàng ngày khám bệnh ngoại trú khoảng 800-1000 lượt, số lượng bệnh nội trú 250-300 bệnh nhân/ngày, số lượng mũi tiêm tĩnh mạch chiếm nhiều nhất và đa số chỉ định cho các trường hợp bệnh nặng (12). Theo báo cáo hoạt động bệnh viện năm 2019 về việc thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng của điều 12 tại Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 được đánh giá là còn nhiều hạn chế như (12). Quy trình TAT tại bệnh viện đã chuẩn hóa nhưng vẫn còn một số ĐD tại các khoa thực hiện chưa đúng quy trình kỹ thuật tiêm, chưa biết được những nguy cơ xảy ra khi tiêm không an toàn. Tại bệnh viện có nhiều mũi tiêm được áp dụng như tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, tiêm trong da…Nhưng qua kết quả khảo sát nhanh của phòng Điều dưỡng, ĐD thực hiện đúng về quy trình tiêm tĩnh mạch an toàn đạt thấp.

Chính vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi chủ đích nghiên cứu TAT với quy trình tiêm tĩnh mạch an toàn. Tính đến nay, bệnh viện chưa có số liệu cụ thể nào để đánh giá điều dưỡng thực hiện tiêm tĩnh mạch như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thực trạng tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng? Để tìm hiểu vấn đề này chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng thực hiện quy trình tiêm tĩnh mạch an toàn và một số yếu tố ảnh hưởng của điều dưỡng khoa lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp năm 2021”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp năm 2021.

Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp năm 2021. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Công tác chăm sóc người bệnh Thông tư 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế đã ghi rõ: Chăm sóc người bệnh trong bệnh viện bao gồm sự hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và tránh nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh (13).

Các khái niệm liên quan đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn Tiêm là một trong các biện pháp để đưa thuốc, chất dinh dưỡng vào cơ thể nhằm mục đích chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh. Trong điều trị, tiêm có vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong trường hợp người bệnh cấp cứu, người bệnh nặng. Trong lĩnh vực phòng bệnh, chương trình tiêm chủng mở rộng đã tác động mạnh vào việc giảm tỷ mắc và tỷ lệ tử vong đối với 6 bệnh truyền nhiễm có thể phòng bằng vắc xin ở trẻ em (1). Khái niệm tiêm an toàn: là một quy trình tiêm không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm, không gây phơi nhiễm cho người thực hiện mũi tiêm, không tạo chất thải nguy hại cho người khác và cộng đồng (1).

Khái niệm tiêm tĩnh mạch: là kỹ thuật dùng bơm kim tiêm đưa một lượng thuốc vào cơ thể theo đường tĩnh mạch với góc tiêm là 300 so với mặt da, nhằm tác dụng nhanh chóng. Khi tiêm cần chọn tĩnh mạch mềm mại, nổi rõ, không di động, da vùng tiêm còn nguyên vẹn (1). Mũi tiêm tĩnh mạch an toàn là: mũi tiêm không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm, không gây phơi nhiễm cho người thực hiện mũi tiêm, không tạo chất thải nguy hại cho người khác và cộng đồng (1). Mũi tiêm tĩnh mạch không an toàn trong nghiên cứu: là mũi tiêm có từ 01 tiêu chí trở lên thực hành không đạt của nghiên cứu này (1).

Chất này khác với chất kháng sinh sử dụng để tiêu diệt 5 hoặc kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu và khác với chất khử khuẩn dụng cụ. Một số loại chất sát khuẩn là chất diệt khuẩn thực sự có khả năng tiêu diệt vi khuẩn trong khi một số loại chất sát khuẩn khác chỉ có tính năng kìm hãm, ngăn ngừa và ức chế sự phát triển của chúng (1). Dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn: Dịch pha chế có chứa cồn dưới dạng chất lỏng gel hoặc kem bọt dùng để xoa/chà tay nhằm tiêu diệt hoặc làm giảm sự phát triển của vi sinh vật. Các loại dung dịch này có thể chứa một hoặc nhiều loại cồn pha theo công thức được công nhận của các hãng dược phẩm (1).

Dự phòng sau phơi nhiễm: Biện pháp ngăn ngừa lây truyền các tác nhân gây bệnh đường máu sau phơi nhiễm (1). Đậy nắp kim tiêm: Kỹ thuật đậy nắp kim một tay, nhân viên y tế cầm bơm kim tiêm bằng một tay và đưa đầu nhọn của kim vào phần nắp đặt trên một mặt phẳng sau đó dùng hai tay đậy lại (1). Kỹ thuật vô khuẩn: Là các kỹ thuật không làm phát sinh sự lan truyền của vi khuẩn trong quá trình thực hiện như vệ sinh bàn tay, mang trang phục phòng hộ cá nhân, sử dụng chất khử khuẩn da, cách mở các bao gói vô khuẩn, cách sử dụng dụng cụ vô khuẩn (1). Phơi nhiễm nghề nghiệp: Phơi nhiễm nghề nghiệp là sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) có chứa tác nhân gây bệnh trong khi nhân viên y tế thực hiện nhiệm vụ dẫn đến nguy cơ lây nhiễm bệnh (1).

Phƣơng tiện phòng hộ cá nhân (PPE) PPE bao gồm găng tay, khẩu trang, áo khoác phòng thí nghiệm, áo choàng, tạp dề, bao giày, kính bảo hộ, kính có tấm chắn bên, mặt nạ. Mục đích sử dụng PPE là để bảo vệ NVYT, người bệnh, người nhà người bệnh và người thăm bệnh khỏi bị nguy cơ phơi nhiễm và hạn chế phát tán mầm bệnh ra môi trường bên ngoài. WHO không khuyến cáo sử dụng khẩu trang, găng tay, kính bảo vệ mắt, quần áo bảo vệ trong thực hiện tiêm. Các PPE này chỉ sử dụng trong trường hợp người tiêm có nguy cơ phơi nhiễm với máu dịch tiết chất tiết (trừ mồ hôi) (1).

Vật sắc nhọn: Bất cứ vật nào có thể gây tổn thương xâm lấn da hoặc qua da; vật sắc nhọn bao gồm kim tiêm, đầu kim truyền dịch, dao mổ, thủy tinh vỡ, ống 6 mao dẫn bị vỡ và đầu dây nẹp nha khoa bị phơi nhiễm (1) Thùng đựng chất thải sắc nhọn: Còn gọi là hộp đựng chất thải sắc nhọn , hộp kháng thủng hay hộp an toàn. Hộp đựng chất thải sắc nhọn được sản xuất bằng chất liệu cứng, chống thủng, chống rò rỉ được thiết kế để chứa chất thải sắc nhọn một cách an toàn trong quá trình thu gom, hủy bỏ và tiêu hủy (1). Xử lý vật sắc nhọn sau khi tiêm: Phân loại chất thải tại nguồn, cô lập ngay các vật sắc nhọn vào hộp kháng thủng đủ tiêu chuẩn, không đậy lại nắp kim, không uốn cong hoặc bẻ gãy kim (1). Vệ sinh tay: Việc rửa tay bằng nước và xà phòng hoặc các chất sát khuẩn.

Khuyến cáo áp dụng khi thực hiện kỹ thuật vô khuẩn (1).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thực trạng quy trình tiêm tĩnh mạch an toàn và yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Đa khoa Tháp Mười 2021" cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình tiêm tĩnh mạch, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến an toàn và hiệu quả của quy trình này. Nó không chỉ giúp nhân viên y tế nâng cao kỹ năng mà còn góp phần cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Để hiểu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng trong lĩnh vực y tế, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thực trạng thực hiện quy trình chuẩn bị trước phẫu thuật có kế hoạch và một số yếu tố ảnh hưởng của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa phương đông năm 2020. Ngoài ra, Luận văn thực trạng phòng ngừa lây nhiễm SARS-CoV-2 ở nhân viên y tế tại bệnh viện dã chiến số 1 Đà Nẵng năm 2022 và một số yếu tố ảnh hưởng cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về các biện pháp an toàn trong y tế. Cuối cùng, Luận văn thực trạng quản lý nhân lực y tế dự phòng và một số yếu tố ảnh hưởng tại các cơ sở y tế công lập tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2020-2021 sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quan về quản lý nhân lực trong lĩnh vực y tế.