ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Hội đồng toàn cầu về phòng chống các rối loạn do thiếu iod (ICCIDD), năm 2006 trên thế giới có khoảng 1,9 tỷ người bị thiếu iod trong đó khu vực Đông Nam Á có khoảng 504 triệu người [58]. Năm 2012 số lượng người thiếu iod trên toàn cầu ước tính vẫn rất cao với khoảng hơn 1,8 tỷ người [39]. Iod là một vi chất dinh dưỡng và là thành phần không thể thiếu trong quá trình tổng hợp nên hormon tuyến giáp của con người. Thông qua hormon tuyến giáp, iod đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng của cơ thể như: quá trình phát triển và biệt hóa của não, chuyển hóa và sự phát triển của cơ thể [6].
Cơ thể con người bị thiếu iod nặng và kéo dài sẽ để lại nhiều hậu quả như: gây bướu cổ, làm chậm sự phát triển trí tuệ ở trẻ, trẻ đần độn… [12], [31]. Những người được sinh ra trong khu vực thiếu iod nghiêm trọng thì chỉ số thông minh giảm khoảng 13,5 điểm so với người sống ở khu vực khác [32]. Phụ nữ trong thời kỳ mang thai bị thiếu iod có thể gây ra sẩy thai tự nhiên, thai chết lưu, đẻ non, trẻ sinh ra có thể bị đần độn với tổn thương não vĩnh viễn. Trẻ sơ sinh có thể bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay hoặc chân, nói ngọng, điếc, câm, mắt lác … [20], [48], [58].
Tại Việt Nam, chương trình Quốc gia phòng chống các rối loạn do thiếu iod được triển khai liên tục trong giai đoạn 1993 - 2005 với sự tham gia của nhiều tuyến đơn vị cơ sở. Sau năm 2005 đến nay chương trình phòng chống các rối loạn do thiếu iod được duy trì ở mức hạn chế với nguồn kinh phí eo hẹp của tỉnh. Cho dù các hoạt động như tuyên truyền phổ biến kiến thức về sử dụng muối iod, kiểm tra giám sát việc sản xuất cung ứng muối iod và các chế phẩm có chứa iod vẫn được thực hiện nhưng kết quả đạt được còn nhiều hạn chế và thực tế không đạt được mục tiêu đề ra về thanh toán các rối loạn do thiếu iod. Thành tựu đạt được của chương trình vào năm 2005 khó có thể được giữ vững [27].
Điều tra của bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2008 tại khu vực phía Nam cho thấy có 77,7% phụ nữ có thai bị thiếu iod từ nhẹ đến nặng, mức trung vị iod niệu của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 2 giảm từ 122 µg/l (2005) xuống 83 µg/l (2008) [3]. Độ bao phủ muối iod toàn quốc năm 2011 chỉ đạt 45,1% [25]. Những nguy cơ về tác hại do thiếu hụt iod đang có xu hướng quay trở lại tại Việt Nam. Hòa Bình là một tỉnh miền núi thuộc khu vực Tây Bắc với dân số khoảng 850.000 người và có 6 dân tộc cùng sinh sống.
Mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 23,2 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo năm 2014 là 15,46% [26]. Năm 2005 tỉnh đã công bố thanh toán tình trạng thiếu iod trong cộng đồng [1]. Tại thời điểm đó, độ phủ muối iod trên địa bàn toàn tỉnh đạt > 99% đủ tiêu chuẩn phòng bệnh, tỷ lệ bệnh bướu cổ giảm xuống <5%, mức trung vị iod niệu đạt ở ngưỡng khuyến nghị. Vậy sau 10 năm chương trình phòng chống các rối loạn do thiếu iod kết thúc, thực trạng dinh dưỡng iod cũng như kiến thức, thái độ, thực hành sử dụng muối iod của phụ nữ có thai là như thế nào? Có yếu tố nào liên quan đến thực trạng dinh dưỡng iod của phụ nữ mang thai hay không? Để trả lời câu hỏi này chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng dinh dưỡng iod và một số yếu tố liên quan đến nồng độ iod niệu ở phụ nữ khám thai tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2015”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định nồng độ iod niệu của phụ nữ có thai đến khám thai tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2015. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống các rối loạn do thiếu iod của phụ nữ có thai đến khám thai tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2015. Xác định một số yếu tố liên quan đến nồng độ iod niệu ở phụ nữ có thai đến khám thai tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2015.
4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Iod và giá trị sinh học iod 1. Đặc điểm và lịch sử phát hiện iod Iod là một nguyên tố hóa học tồn tại trong tự nhiên ở dạng rắn nhưng dễ bay hơi bởi các yếu tố như: nhiệt độ cao, ánh sáng, độ ẩm. Iod được De Courois phát hiện ra đầu tiên vào năm 1813 ở trong rong biển.
Năm 1819, Andrew là người đầu tiên chứng minh sự có mặt của iod trong cơ thể động vật. Đến năm 1820 Coinder điều trị thành công các bệnh nhân mắc bệnh bướu giáp với iod. Năm 1822, Chatin tiến hành phân tích iod ở nhiều loại thực phẩm bao gồm: thịt gia súc, hải sản, rau xanh, nước và kết luận iod có thể phân bố ở mọi nơi trong tự nhiên [12], [31]. Chu trình iod trong tự nhiên Iod là một vi chất dinh dưỡng có trong tự nhiên, nằm ở bề mặt vỏ trái đất.
Các hiện tượng tự nhiên như mưa lũ, băng hà, rửa trôi cuốn các chất ở bề mặt trái đất, trong đó có iod theo các dòng sông, suối ra biển, vì thế biển là nơi dự trữ chủ yếu iod của trái đất [6], [12], [51]. Dưới tác dụng của năng lượng mặt trời iod trong nước biển bị bay hơi theo gió vào đất liền, cùng với mưa bổ sung iod cho đất. Theo chu trình này, mỗi năm có khoảng 400.000 tấn iod bổ sung cho đất. Nhưng vì nước mưa lại theo các sông suối mang theo iod chảy ra biển nên quá trình mất iod trong đất diễn ra liên tục và vĩnh viễn, đặc biệt ở các vùng đồi núi, đồng bằng phù sa, các vùng hay bị ngập lũ.
Các loài thực vật sống trên vùng thiếu iod cũng bị thiếu iod. Theo chuỗi và lưới thức ăn con người, động vật sử dụng các thực phẩm nghèo iod cũng sẽ dẫn đến bị thiếu iod [6], [14], [51]. Tuyến giáp và vai trò của hormon tuyến giáp 1. Sự hình thành phát triển của tuyến giáp Tuyến giáp là một tuyến nội tiết lớn nhất trong cơ thể, nằm trước sụn giáp, có hai thùy và một eo, trọng lượng của tuyến giáp lớn dần theo tuổi.
Đơn vị cấu tạo 5 chính của tuyến giáp là nang giáp. Tế bào nang giáp là nơi dự trữ và tổng hợp nên 2 hormon quan trọng là T3 và T4 có chứa các nguyên tử iod [6], [34]. Thời kỳ bào thai, tuyến giáp được hình thành vào khoảng tuần thứ 3 - 4 và chức năng của tuyến giáp bắt đầu hoạt động từ tuần thứ 10 trở đi. Hormon tuyến giáp bắt đầu được tiết ra từ chính tuyến giáp của thai nhi với một lượng đáng kể từ 18 - 20 tuần tuổi tham gia vào sự hình thành và phát triển của thai nhi.
Tuy nhiên trong suốt thời kỳ bào thai, lượng iod có được của thai nhi để tổng hợp nên hormon tuyến giáp lại phụ thuộc vào sự thu nhập iod của chính bà mẹ mang thai [29], [34], [50]. Sinh tổng hợp hormon tuyến giáp Iod theo thức ăn vào ống tiêu hóa và được hấp thu ở ruột. Tuyến giáp là nơi dự trữ iod chủ yếu (khoảng 80%, tương đương 15 - 20mg iod) của cơ thể. Kho dự trữ này luôn được bổ sung, đổi mới.
Hàng ngày một người bình thường hấp thu khoảng 100 µg iod từ thức ăn vào tuyến giáp và tuyến giáp cũng sản xuất và bài tiết vào máu 100 µg iod dưới dạng hormon tuyến giáp. Sau khi phát huy tác dụng sinh học, iod liên kết hữu cơ bị khử phát sinh khoảng 100µg iod vô cơ dưới dạng iodua, một phần được tuyến giáp bắt trở lại để tái tổng hợp nên hormon, một phần được đào thải ra ngoài theo nước tiểu [6], [14]. Iod thức ăn Iod ngoài tuyến giáp Iod trong tuyến giáp Iod liên kết (T3, T4, MIT, DIT, rT3) Iod tự do Iod nước tiểu Sơ đồ 1. Quá trình chuyển hóa iod [6] 6 Để tổng hợp ra hormon T3 và T4, cần phải có hai thành phần là iod lấy từ môi trường ngoài cơ thể và axít amin tyrosin do cơ thể tự tổng hợp.
Thông qua hormon tuyến giáp, iod đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng của cơ thể như quá trình phát triển, biệt hóa của não, chuyển hóa và phát triển cơ thể [6], [14]. Nhu cầu iod của cơ thể Theo kết quả nghiên cứu về khẩu phần ăn của Cơ quan thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (US Food and Drug Administrations) công bố năm 1991, nhu cầu iod của cơ thể thông qua khẩu phần ăn là 180µg iod/ngày/người. Tuy nhiên nhu cầu iod thay đổi theo từng lứa tuổi, giai đoạn phát triển của con người [6].1: Nhu cầu iod hàng ngày đối với cơ thể [53] Đối tƣợng Nhu cầu (µg/ngƣời/ngày ) 0 - 6 tháng tuổi 40 – 90 6 - 12 tháng tuổi 50 - 90 1 - 3 tuổi 70- 90 4 - 6 tuổi 90 7 - 10 tuổi 120 Thanh thiếu niên 150 Phụ nữ có thai và cho con bú 200 Theo hướng dẫn cho chương trình quản lý đánh giá và giám sát các rối loạn do thiếu iod (CRLTI) của WHO/UNICEF/ICCIDD năm 2007 khuyến cáo về lượng iod nên cung cấp hàng ngày với các lứa tuổi khác nhau như sau: Bảng 1.2: Nhu cầu iod hàng ngày của cơ thể theo WHO,UNICEF,ICCIDD [58] Đối tƣợng Nhu cầu (µg/ngƣời/ngày ) 0 - 59 tháng 90 6 - 12 tuổi 120 Thanh thiếu niên và người trưởng thành 150 Phụ nữ có thai và cho con bú 250 Nhìn chung nhu cầu iod được coi là tối ưu đối với người trưởng thành là 150-200µg/ngày. Vì khó xác định khẩu phần iod trong thực phẩm, người ta dùng 7 phương pháp định lượng iod nước tiểu để đánh giá tình trạng thu nhận iod của cơ thể.
Theo những nghiên cứu sinh lý học, lượng iod thải ra nước tiểu hàng ngày tương đương với lượng iod thu nhập từ khẩu phần ăn. Do đó trong thực hành, các tổ chức quốc tế (WHO, UNICEF, ICCIDD.) đề nghị một người được coi là thiếu iod khi mức trung vị iod niệu thải ra nước tiểu <100 µg/l đối với người trưởng thành bình thường và ở phụ nữ có thai và cho con bú là <150 µg/l [6]. Vai trò của hormon tuyến giáp * Tác dụng lên sự phát triển cơ thể: Ở người, hormon tuyến giáp tác động lên sự phát triển cơ thể chủ yếu thể hiện trong thời kỳ đang lớn của đứa trẻ với biểu hiện là: - Làm tăng tốc độ phát triển cơ thể.