ĐẶT VẤN ĐỀ Động lực làm việc của các cá nhân trong tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc cho cá nhân và tổ chức. Mục đích quan trọng nhất của tạo động lực là sử dụng hợp lý nguồn lao động, khai thác hiệu quả nguồn lực con người nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. Động lực làm việc của viên chức, người lao động có ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả hoạt động của tổ chức, môi trường làm việc tại bệnh viện cũng không ngoại lệ [15]. Trong ngành y tế,điều dưỡng chiếm số lượng lớn và giữ vai trò quan trọng trong quá trình điều trị và chăm sóc.
Theo Báo cáo Cục quản lý khám chữa bệnh năm 2016 với số lượng hơn 129.337 Điều dưỡng đang công tác tại các cơ sở khám chữa bệnh hiện nay [7], [15]các dịch vụ chăm sóc do điều dưỡng cung cấp có phạm vi rất rộng, từ việc hỗ trợ chẩn đoán và điều trị, thực hiện các kỹ thuật từ chăm sóc tinh xảo đến chăm sóc vệ sinh cơ bản cho người bệnh. Trong mọi hoạt động chuyên môn, công tác điều dưỡng luôn diễn ra trước, trong và sau điều trịvới mục đích bảo đảm cho công tác điều trị và chăm sóc của cán bộ y tế được antoàn. Dịch vụ chăm sóc của điều dưỡng trực tiếp tác động vào chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm biến chứng và tử vong cho bệnh nhân.Tuy nhiên, ngành điều dưỡng của Việt Nam vẫn còn một số bất cập cần giải quyết như: chưa được đầu tư thoả đáng cả về số lượng và chất lượng, mức thu nhập của người điều dưỡng chưa cao, chưa nhìn nhận đúng vai trò người điều dưỡng [7]. Để người điều dưỡng có thể phát huy hết khả năng, năng lực, thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ của mình thì việc tìm hiểu các yếu tố tạo động lực cho họ làm việc và xây dựng chính sách tạo động lực làm việc phù hợp cho điều dưỡng là rất cần thiết [15].
Ban Giám đốc của mỗi bệnh viện cần tìm hiểu động lực của nhân viên y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng, các yếu tố ảnh hưởng từ đó đưa ra được các giải pháp tăng động lực kết hợp với quản lý hiệu quả thực hành và giám sát tạo ra những điều kiện cho hiệu quả lao động trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh. Bệnh việnĐa khoa Trung tâm Tiền Giang tuyến cuối của tỉnh, đáp ứng nhu cầu khám chữa.bệnh của người dân tỉnh Tiền Giang và các tỉnh lân cận như Long An, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp với đầy đủ các chuyên khoa sâu đạt chất 2 lượng hàng đầu về công tác khám chữa bệnh và dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều năm qua Bệnh viện luôn đạt và vượt chỉ tiêu về khám, chữa bệnh do ngành Y tế giao, số người bệnh đến khám, chữa bệnh tại Bệnh.viện năm sau luôn cao hơn năm trước, công suất sử dụng giường bệnh vượt trên 100% [1]. Hơn nữa, năm 2018 Bệnh viện được công nhận là bệnh viện hạng nhất, trực thuộc Sở Y tế Tiền Giang và tiến tới tự chủ hoàn toàn.
Việc nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân, để tăng nguồn thu, sẽ tạo áp lực cho bệnh viện, cũng như áp lực cho nhân viên ngày càng lớn, nhất là Điều dưỡng chiếm phần lớn nhân viên bệnh viện 530/888 (khoảng trên 59,68%) [3]. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh,điều dưỡng luôn chịu nhiều áp lực như: áp lực từ phía người bệnh, bất đồng trong công việc, quan hệ với lãnh đạo và đồng nghiệp. Bên cạnh công việc hàng ngày luôn vất vả do quá tải bệnh nhân, tiếp xúc với bệnhnhân có nguy cơ cao, đôi khi phải làm việc cả ca đêm, ngày nghỉ, ngày lễ, công việc lặp đi lặp lại, đòi hỏi nhiều sự tỉ mỉ nhưng các khoản thu nhập tăng thêm tại bệnh viện chưa cao, điều này có thể là nguyên nhân làm cho điều dưỡng dễ chán nản, chưa thực sự làm hết chức năng nhiệm vụ, có tư tưởng an phận trong công việc dẫn đến hiệu quả trong công việc chưa cao, từ đó có thể gây ra những sai sót trong chẩn đoán, chăm sóc và điều trị, ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người bệnh. Bên cạnh đó theo thống kê từ năm 2016 đến 2018 có đến 23 cán bộ điều dưỡng nghỉ việc chiếm 41,8% (23/55) [1-3] số cán bộ Y tế của bệnh viện nghỉ việc làm cho việc đảm bảo chất lượng chăm sóc người bệnh càng trở nên khó khăn hơn.
Để trả lời các câu hỏi: Động lực làm việc của điều dưỡng đang công tác tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Gianghiện nay như thế nào? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến độnglực làm việc của họ? Tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh.hƣởng đến độnglực làm việc của Điều dƣỡng lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019”. Mô tả thực trạng độnglực làm việc của Điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Đakhoa Trung tâm TiềnGiang năm 2019. Phân tích một số yếu tố ảnhhưởng đến độnglực làm việc của Điều dưỡng lâm sàng tại Bệnhviện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang 2019. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái niệm, nhiệm vụ của điềudƣỡng 1. Khái niệm vềđiềudưỡng Quá trình phát triển, trình độ và vị trí xã hội của Ngành điều dưỡng qua các thời kỳ lịch sử, ở các quốc gia đều khác nhau.Khái niệm về điều dưỡng luôn phản ánh sự quan tâm của xã hội với việc chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho người dân. - Florence Nightingale cho rằng: Điều dưỡng là nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ. Vai trò trọng tâm của người điều dưỡng là giải quyết các yếu tố môi trường xung quanh bệnh nhân để họ phục hồi sức khoẻ một cách tự nhiên (Lý thuyết về khoa học vệ sinh) [6].
- Thế kỷ 20 với sự phát triển của Khoa học kỹ thuật và Y học, đòi hỏi ngành Điều dưỡng phải có những thay đổi cho phù hợp. Khoa học về điều dưỡng phát triển, nhưng vẫn thiên về kỹ thuật chăm sóc bệnh nhân [6]. - Theo Hội điều dưỡng thế giới (1973): Điều dưỡng là chăm sóc và hỗ trợ người bệnh thực hiện các hoạt động hàng ngày. Chức năng nghề nghiệp cơ bản của người điều dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao, phục hồi sức khoẻ của người bệnh hoặc người khoẻ, cũng như làm cho cái chết được thanh thản mà mỗi cá nhân có thể thực hiện được nếu như họ có đủ sức khoẻ, ý chí và kiến thức, giúp đỡ các cá thể sao cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt [6].
- Hội nghị toàn quốc chuyên ngành điều dưỡng Việt Nam (2005) đã định nghĩa: Điều dưỡng là khoa học chăm sóc bệnh nhân, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện và quá trình phục hồi sức khỏe sau điều trị để người bệnh đạt tới chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn [6]. Nhiệm vụ của điềudưỡng Theo TT liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ quy định về mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điềudưỡng, chức danh điều dưỡng được phân làm 3 hạng được quy định các nhiệm vụ cụ thể như sau:Chăm sóc ngườibệnh tại cơ sở y tế; Sơ cứu, cấp cứu; Truyền thông, tư vấn, giáo dục sức khoẻ; Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng; Bảo vệ và thực hiện quyền của người 5 bệnh; Phối hợp, hỗ trợ công tác điều trị; Đào tạo, nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp [8]. Khái niệm động lực, động lựclàm việc 1.Khái niệm động lực “Động lực” là từ được nhắc đến ở hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống. Các nhà quản trị luôn muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi rằng độnglực của người lao động là gì.
Có thể khái quát: Độnglực là yếu tố bên trong của cá nhân mỗi người lao động. Đó chính là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của người laođộng để tạo nên sự chuyển biến hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà doanh nghiệp mong muốn đạt được [15]. Độnglực làm việc ngày nay đã trở thành khái niệm phổ biến và đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trong nhiều năm qua. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về độnglực đã được các nhà nghiên cứu công bố.
Năm 2000, tác giả Locke đã mô tả động lực được tạo thành từ bốn khái niệm quan trọng: nhu cầu, giá trị, mục tiêu và ý định và cảm xúc [41]. Còn theo tác giả Crossman và Abou Zaki đã khẳng địnhđộng lực là những hành động khuyến khích như bản thân công việc, tiền lương, sự thăng tiến, giám sát và mối quan hệ với đồng nghiệp có thể ảnh hưởng đến thái độ, hành vi và xác định được mức độ đam mê, cam kết, sự tham gia, sự tập trung [31]. Mặc khác vào năm 2007 theo nghiên cứu của Mullins cũng đã có nhận định rằng độnglực có thể được định nghĩa như là một động lực bên trong có thể kích thích cá nhân nhằm đạt được mục tiêu để thực hiện một số nhu cầu hoặc mong đợi [43]. Qua các định nghĩa khác nhau về “Động lực” của các nhà nghiên cứu ở các thời điểm khác nhau ta có thể thấy rằng độnglực xuất phát từ chính bản thân mỗi người.
Đây là một trạng thái nội tại, cung cấp sinh lực và hướng con người vào những hành vi có mục đích. Ở những vị trí khác nhau với những đặc điểm tâm lý khác nhau, động lực của mỗi người cũng khác nhau.Khái niệm động lực làm việc 6 Theo giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. [12] Cũng giống như “Động lực” có nhiều khái niệm về “Động lựclàm việc”, mỗi khái niệm có một quan điểm khác nhau nhưng đều làm rõ được bản chất của động lực làm việc. Điều này có nghĩa là động lực mang tính cá nhân.
Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực làm việc được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể; Động lực làm việc của mỗi cá nhân chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau. Do vậy, động lực làm việc có thể thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc.