ĐẶT VẤN ĐỀ Trong quá trình khám chữa bệnh, người bệnh và người nhà người bệnh có những vấn đề tâm lý-xã hội khác nhau như buồn phiền, lo lắng, chán nản, thiếu hụt việc tiếp cận các thông tin của bệnh viện, khó khăn về mặt tài chính (1). Hiện nay, tại một số bệnh viện trên cả nước, đăc biệt bệnh viện tuyến trung ương đã xảy ra tình trạng quá tải số lượt khám chữa bệnh. Điều này đã gây áp lực đối với nhân viên y tế và ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh. Bên cạnh đó, người bệnh và người nhà người bệnh thiếu sự quan tâm từ đội ngũ y bác sỹ như tư vấn, giải quyết chế độ chính sách; hỗ trợ tinh thần; vận động, kết nối nguồn lực.
Đặc biệt, những người bệnh có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, đến từ vùng sâu, vùng xa, mắc bệnh hiểm nghèo gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện. Do đó, hoạt động công tác xã hội (CTXH) đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề tâm lý – xã hội cho người bệnh, người nhà người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại bệnh viện (2). Trên thế giới, CTXH trong bệnh viện là một trong những trụ cột chính của nghề CTXH nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người bệnh, người nhà người bệnh (3), nhân viên CTXH là một thành phần trong ê kíp trị liệu với những đóng góp tích cực trong quá trình khám, điều trị, chăm sóc người bệnh (4), (5). CTXH bắt đầu phát triển tại Việt Nam khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án 32 năm 2010, trên cơ sở đó, năm 2011 Bộ Y tế phê duyệt Quyết định số 2514/QĐ-BYT ban hành Đề án phát triển nghề CTXH trong ngành Y tế, đến năm 2015 khi Thông tư số 43/2015/TT- BYT của Bộ Y tế được ban hành quy định các bệnh viện phải triển khai thực hiện các hoạt động CTXH (6).
Theo báo cáo của Bộ Y tế sau 7 năm thực hiện Đề án 32 và 3 năm thực hiện Thông tư 43, 100% các bệnh viện tuyến trung ương và 80% các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện có phòng/tổ CTXH. Nhiều bệnh viện đã làm tốt các hoạt động tư vấn, chỉ dẫn thông tin; truyền thông, giáo dục nâng cao sức khỏe; vận động và kết nối nguồn lực. Tuy nhiên, những hoạt động CTXH hỗ trợ về tâm lý-xã hội, đặc biệt hỗ 2 trợ cho nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương còn chưa được triển khai tốt hiện nay (7), (8), (9). Hiện nay, các bệnh viện trên cả nước hầu hết đã thành lập Phòng/Tổ công tác xã hội theo Thông tư 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế.
Riêng Tổ Công tác xã hội của Bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp được thành lập từ năm 2017, bước đầu đã triển khai được một số nhiệm vụ theo Thông tư 43/2015/TT-BYT. Tuy nhiên, Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai các hoạt động công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp. Ngoài ra, theo sự hiểu biết của tác giả, chưa có nghiên cứu về công tác xã hội trong bệnh tại Bệnh viện đa khoa trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Do vậy, Nghiên cứu “Kết quả hoạt động công tác xã hội tại Bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp giai đoạn 2017-2020 và một số yếu tố ảnh hưởng” sẽ góp phần tìm hiểu thực trạng các hoạt động công tác xã hội và các yếu tố (rào cản, khó khăn) ảnh hưởng đến việc thực hiện các hoạt động theo các nhiệm vụ được quy định tại Thông tư 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế.
Từ đó, đề xuất một số khuyến nghị để hoạt động công tác xã hội được triển khai tốt hơn tại Bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp trong thời gian tới. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU (1) Mô tả kết quả hoạt động công tác xã hội tại Bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp giai đoạn 2017-2020. (2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội tại Bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp giai đoạn 2017-2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái niệm sử dụng trong nghiên cứu - Khái niệm về công tác xã hội Theo Hiệp hội nhân viên công tác xã hội quốc tế (2000), “Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực tự giải quyết để giải phóng cho người dân, giúp họ thoải mái, dễ chịu hơn trong cuộc sống. Công tác xã hội vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, tương tác những điểm giữa con người với môi trường với nguyên tắc đảm bảo nhân quyền và công bằng xã hội” (10). Theo Phạm Tiến Nam (2017) “Công tác xã hội là một ngành khoa học và một nghề thực hành được xã hội công nhận nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của cá nhân, nhóm và cộng đồng; đồng thời góp phần cải thiện môi trường xã hội để trao quyền và phát huy tiềm năng giải quyết vấn đề xã hội của cá nhân, nhóm và cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển xã hội” (11). Như vậy, khái niệm về công tác xã hội của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội quốc tế năm 2000 là một khái niệm chung có thể ứng dụng công tác xã hội trong lĩnh vực an sinh xã hội, y tế, trường học, và tư pháp.
Khái niệm về công tác xã hội của Phạm Tiến Nam năm 2017 thì cụ thể hơn, ứng dụng trong môi trường bệnh viện. - Khái niệm về bệnh viện “Bệnh viện là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh và có một số nhiệm vụ như sau: Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh; Đào tạo cán bộ; Nghiên cứu khoa học về y học; Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật; Phòng bệnh; Hợp tác quốc tế và Quản lý kinh tế y tế” (12). Căn cứ vào 5 nhóm tiêu chí (vị trí, chức năng và nhiệm vụ; quy mô và nội dung hoạt động; cơ cấu lao động và trình độ cán bộ; khả năng chuyên môn, hiệu quả chất lượng công việc; cơ sở hạ tầng, trang thiết bị) mà bệnh viện được phân thành 5 hạng: Hạng đặc biệt (chỉ áp dụng đối với một số bệnh viện lớn), Hạng I, Hạng II và Hạng III và hạng IV (13). 5 - Khái niệm về công tác xã hội trong bệnh viện Theo Harriet Barlett (1934) “Công tác xã hội trong bệnh viện là một hình thức đặc biệt của công tác xã hội cá nhân và nó tập trung vào mối liên hệ giữa bệnh tật và sự thích nghi xã hội kém”.
Khái niệm này đề cập đến sự ảnh hưởng của yếu tố tâm lý-xã hội với người bệnh trong bệnh viện. Do đó, nhân viên CTXH phải đặt người bệnh trong mối quan hệ tương tác với môi trường xã hội (14). “Công tác xã hội trong bệnh viện được xem là một lĩnh vực chuyên biệt thuộc công tác xã hội. Công tác xã hội trong bệnh viện xem xét các vấn đề tâm lý – xã hội và những khó khăn của người bệnh/người nhà người bệnh/nhân viên y tế trong việc tiếp cận các nguồn lực hoặc dịch vụ y tế nhằm giúp họ vượt qua khó khăn, khơi dậy/phát huy năng lực của bản thân trong quá trình điều trị bệnh, chăm sóc người bệnh, hướng tới sự hài lòng và hỗ trợ nâng cao chất lượng khám chữa bệnh” (11).
- Khái niệm nhân viên công tác xã hội và nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện Hiệp hội Nhân viên Công tác xã hội Quốc tế (2000) định nghĩa: “Nhân viên công tác xã hội là những người được đào tạo và trang bị kiến thức, kỹ năng trong công tác xã hội. Họ có nhiệm vụ trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để đối tượng tiếp cận được các nguồn lực cần thiết thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân và môi trường; vận động chính sách xã hội vì lợi ích của cá nhân, nhóm, cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và thực tiễn” (10). Thông tư số: 34/2010/TT-BLĐTBXH quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức công tác xã hội của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (15), gồm có: công tác xã hội viên chính, công tác xã hội viên, và nhân viên công tác xã hội. Đây đều được coi là những nhân viên công tác xã hội với trách nhiệm và yêu cầu công việc ở các mức độ khác nhau.
Nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện được hiểu là “cán bộ/nhân viên thuộc biên chế hoặc có hợp đồng lao động với bệnh viện thuộc Phòng/Tổ công tác 6 xã hội trong bệnh viện có tham gia trực tiếp để triển khai các hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện theo hướng dẫn tại Thông tư 43/TT-BYT quy định về hình thức và nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện”. Hình thức và nhiệm vụ của công tác xã hội trong bệnh viện Hiện. động/nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện tại Việt Nam được thực hiện dựa trên Thông tư số 43/BYT/2015/TT-BYT (16). Nhiệm vụ hỗ trợ người bệnh và người nhà người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh nhằm giải quyết các vấn đề công tác xã hội, bao gồm: đón tiếp, tư vấn thông tin liên quan đến quá trình khám chữa bệnh của người bệnh tại bệnh viện; thăm hỏi động viên, hỗ trợ tâm lý-xã hội cho người bệnh; hỗ trợ khẩn cấp cho những người bệnh là nạn nhân của bạo lực gia đình, xâm hại, ngược đãi, tại nạn, thảm họa thiên tai; tư vấn chế độ chính sách, vận động và bảo vệ quyền lợi cho người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh tại bệnh viện; hỗ trợ người bệnh chuyển cơ sở khám chữa bệnh, và xuất viện; hỗ trợ các nhóm tình nguyện viện triển khai hoạt động tại bệnh viện.
Nhiệm vụ truyền thông, giáo dục sức khỏe: tổ chức các hoạt động truyền thông để giới thiệu hình ảnh, các dịch vụ của bệnh viện tới người bệnh; trang bị kiến thức về bệnh, cách chăm sóc sức khỏe tới người bệnh, người nhà người bệnh; phối biến chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan, chế độ chính sách, quy trình khám chữa bệnh của bệnh viện tới người bệnh, người nhà người bệnh; làm việc với báo chí để cung cấp thông tin. Nhiệm vụ kết nối, điều phối nguồn lực: kết nối, điều phối nguồn lực về vật chất và tài chính để hỗ trợ cho người bệnh có hoàn cảnh khó khăn.