ĐẶT VẤN ĐỀ Xuất hiện từ cuối năm 2019, virus SARS-CoV-2 đã gây ra đại dịch trên toàn thế giới, đây là một trong những virus vô cùng nguy hiểm và sau hơn 3 năm dịch vẫn chưa có dấu hiện ngừng lại. Tính tới đầu tháng 11 năm 2022, trên 627 triệu người nhiễm COVID-19, gây ra trên 6,5 triệu ca tử vong trên thế giới. Việt Nam đã bước qua làn sóng dịch thứ 4 và ghi nhận số mắc kỷ lục với hơn 11,5 triệu ca nhiễm và trên 43,000 ca tử vong khiến hàng loạt khu vực phải thực hiện giãn cách, nhiều nhà máy phải ngưng trệ sản xuất (1). Nhằm ứng phó với đại dịch, nhiều nhà sản xuất Dược phẩm và các Viện Nghiên cứu trên thế giới đã tiến hành thử nghiệm và sản xuất thành công vắc-xin.
Hiện tại, BYT Việt Nam đã cấp phép sử dụng 8 loại vắc-xin trong tiêm chủng toàn dân. Virus SARS-CoV-2 do có lõi nhân là RNA nên dễ dàng biến đổi, nhân bản, tạo ra các biến chủng dễ lây nhiễm và nguy hiểm hơn. Nhiều quốc gia trên thế giới đã ghi nhận các trường hợp nhiễm biến chủng Alpha từ Anh, Beta từ Nam Phi, Gamma từ Brazil, Delta từ Ấn Độ và mới nhất là 2 biến chủng Lambda xuất hiện tại Peru và Mu tại Colombia (2). Đặc biệt, biến chủng Mu đang được lo ngại về khả năng kháng vắc- xin và đang được nghiên cứu cụ thể để đưa ra giải pháp ứng phó (3).
Việc đảm bảo mức độ bao phủ của vắc-xin là rất quan trọng trong bối cảnh dịch COVID-19 được coi là bệnh đặc thù, nhưng khả năng biến đổi và mức độ nguy hiểm là khá cao. Có thể nói, việc cộng đồng do dự tiêm chủng vắc-xin đang là vấn đề y tế công cộng rất đáng quan tâm, ảnh hưởng lớn tới không chỉ việc bảo vệ sức khỏe cá nhân, mà còn tới tình trạng miễn dịch cộng đồng (4). Đồng thời, đây cũng là yếu tố quyết định xem mục tiêu đạt được tiêm chủng toàn diện và miễn dịch cộng đồng vào đầu năm 2021 có khả thi hay không (5). Theo đó, ít nhất 70% dân số trên cả nước phải được tiêm đủ cả 2 mũi vắc-xin để đạt được khả năng miễn dịch với SARS-CoV-2 của cộng đồng.
Ở thời điểm tiến hành đề tài (tháng 1/2021), mới có 20,1% dân số Việt Nam được tiêm mũi vắc-xin (6, 7). Tính tới thời điểm viết đề tài (18/10/2021), chưa có nhiều nghiên cứu tại Việt Nam làm về tỉ lệ do dự tiêm chủng vắc-xin của người dân. Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi trường Đại học Y tế công cộng trên 2 nhóm đối tượng giáo viên THPT trở xuống trong độ tuổi từ 18 đến 59 cho thấy tỉ lệ chấp thuận khá cao, cụ thể là 85,9% đối tượng nghiên cứu chấp nhận tiêm vắc-xin, và 69,1% sẵn sàng trả tiền để được tiêm vắc-xin (8). Tuy nhiên, nghiên cứu trên hướng tới nhóm đối tượng khá cụ thể, không tập trung vào nhóm đối tượng được tiêm chính.
Do đó, nhằm trả lời được các câu hỏi: [1] tỉ lệ chấp nhận vắc-xin phòng COVID-19 ở người dân phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy là bao nhiêu? và [2] Những yếu tố liên quan nào dẫn đến sự do dự tiêm chủng vắc-xin COVID-19 ở người dân phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy. Do đó, học viên xin được tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng do dự tiêm chủng vắc-xin phòng COVID-19 và một số yếu tố liên quan của người dân trên địa bàn phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội năm 2021”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1) Mô tả thực trạng do dự tiêm chủng vắc-xin phòng COVID-19 của người dân tại phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội từ 11/2021 đến 06/2022. 2) Phân tích yếu tố liên quan đến sự do dự tiêm chủng vắc-xin phòng COVID-19 cho người dân tại phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội từ 11/2021 đến 06/2022.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa và khái niệm 1. SARS-CoV-2 và dịch COVID-19 SARS-CoV-2 là một chủng mới của virus Corona gây suy đường hô hấp cấp ở người (9). SARS-CoV-2 lây nhiễm chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp (tiếp xúc gần) với người nhiễm bệnh qua dịch tiết từ miệng và mũi, dịch tiết này bao gồm nước bọt, dịch tiết hô hấp hoặc giọt bắn của người mang virus và tiếp xúc gián tiếp qua các vật dụng hoặc bề mặt bị nhiễm mầm bệnh.
Những người có virus trong mũi và họng có thể vô tình làm lây những giọt bắn mang mầm bệnh lên các vật dụng và bề mặt (10). Cho đến khi việc phân phối vắc-xin tạo ra khả năng miễn dịch cộng đồng, các hành vi liên quan đến nhận thức và các biện pháp phòng ngừa có tác dụng tốt nhất để ngăn chặn sự lây lan thêm của bệnh. Điều này bao gồm các hành vi như tránh đến những nơi đông người, rửa tay thường xuyên hoặc sử dụng thuốc sát trùng tay, tránh chạm vào mắt, mũi và miệng, lau chùi các bề mặt chạm vào thường xuyên, đeo khẩu trang, tránh xa xã hội và tìm kiếm lời khuyên y tế để nhận thấy các triệu chứng như đau họng, sốt hoặc khó thở (11). Vào ngày 11 tháng 2 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đặt tên cho bệnh hô hấp ở người do chủng mới của virus SARS-CoV-2 là COVID-19 (12).
Virut có thời gian ủ bệnh xấp xỉ 5 ngày, dao động trong khoảng từ 2 ngày kể từ khi tiếp xúc với nguồn bệnh đến 14 ngày. Bệnh nhân khi mắc COVID-19 sẽ có các triệu chứng ban đầu như ho, sốt và mệt mỏi. Một vài triệu chứng không thường gặp là rát họng, tiêu chảy, đau đầu hoặc mất khẩu vị (9). Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân khi bị nhiễm SARS-CoV-2 không biểu hiện bất kì triệu chứng nào (13).
Do đó, để kiểm soát tốt tình trạng lây nhiễm và không để lây lan rộng, bất kì người nào đã từng có tiếp xúc trực tiếp với các bệnh nhân COVID-19 hoặc những người có tình trạng ho, sốt và mệt mỏi nên được xét nghiệm và cách ly tại cơ sở Y tế gần nhất (14). COVID-19 là một bệnh gây nguy hiểm đến tính mạng. Những biểu hiện triệu chứng nặng bao gồm thở gấp, khó thở, đau ngực, không nói được hoặc không cử động 5 được (9). Nếu không được điều trị tích cực kịp thời, bệnh nhân có thể bị suy đa tạng, sốc nhiễm trùng, đông máu và dẫn đến tử vong (15).
Vắc-xin Vắc-xin là một chất được sử dụng để kích thích sản xuất kháng thể và cung cấp khả năng miễn dịch chống lại một hoặc một số bệnh, được điều chế từ tác nhân gây bệnh, các sản phẩm của nó hoặc một chất thay thế tổng hợp, được điều trị để hoạt động như một kháng nguyên mà không gây ra bệnh (16). Vắc-xin huấn luyện hệ thống miễn dịch của bạn để tạo ra kháng thể, giống như khi nó tiếp xúc với một căn bệnh. Tuy nhiên, vì vắc-xin chỉ chứa các dạng vi trùng bị tiêu diệt hoặc làm suy yếu như vi-rút hoặc vi khuẩn, chúng không gây ra bệnh hoặc khiến bạn có nguy cơ bị các biến chứng của bệnh (16). Tiêm phòng là một cách đơn giản, an toàn và hiệu quả để bảo vệ bạn chống lại các bệnh có hại trước khi bạn tiếp xúc với chúng.
Nó sử dụng hệ thống kháng thể tự nhiên của cơ thể bạn để xây dựng khả năng chống lại các bệnh nhiễm trùng cụ thể và làm cho hệ thống miễn dịch của bạn mạnh hơn. Hầu hết các loại vắc-xin đều được đưa vào cơ thể bằng đường tiêm, nhưng một số loại sử dụng bằng đường uống (bằng miệng) hoặc xịt vào mũi (16). Do dự tiêm chủng Theo từ điển, định nghĩa của “Do dự là chưa quyết định được vì còn nghi ngại, sợ thất bại. Do dự tiêm chủng là việc trì hoãn hoặc từ chối các dịch vụ vắc xin hiện có.
Mặc dù tiêm chủng an toàn và hiệu quả, việc giảm khả năng chấp nhận vắc xin đã trở thành một vấn đề toàn cầu đang nổi lên.Vấn đề do dự tiêm chủng (DDTC), là đề cập đến việc chậm chấp nhận hoặc từ chối tiêm chủng mặc dù có sẵn các dịch vụ tiêm chủng. Hay DDTC còn được định nghĩa là “sự miễn cưỡng hoặc từ chối tiêm chủng mặc dù có vắc-xin”, được mạng lưới khoa học toàn cầu công nhận là mối đe dọa hàng đầu đối với sức khỏe, vì nó có nguy cơ phá hoại các chương trình tiêm chủng thành công và hiệu quả trên toàn thế giới (17). DDTC có thể đến từ một số yếu tố bao gồm từ sự thiếu hiểu biết và nhận thức, đến sự nghi ngờ có nguồn gốc vắc-xin đến những lo ngại về mặt ngắn hạn hoặc dài hạn của vắc-xin (18). Các nhà nghiên 6 cứu và các bên liên quan ngày càng thừa nhận thực trạng về DDTC cần được lưu ý, chú trọng trong việc người dân chủ động từ chối tiêm chủng.
Những quan niệm sai lầm về vắc-xin, bao gồm cả lo ngại về tính an toàn và hiệu quả, đã lan rộng trên một số nền tảng truyền thông xã hội (ví dụ như Facebook, Twitter, v.v…) từ đó khuếch đại phong trào chống tiêm chủng (19). Tổng quan về tình trạng DDTC trên Thế giới và tại Việt Nam. Trên Thế giới Theo nhóm chuyên gia tư vấn chiến lược về Tiêm chủng (SAGE) sự DDTC vắc-xin được sử dụng để mô tả sự chậm trễ trong việc chấp nhận hoặc từ chối tiêm chủng mặc dù đã có các dịch vụ tiêm chủng. Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ chấp nhận tiêm chủng bao gồm sự chủ quan, sự tin tưởng và tính thuận tiện.
Sự chủ quan biểu thị nhận thức thấp về nguy cơ bệnh tật; do đó, việc tiêm phòng được coi là không cần thiết. Sự tin tưởng đề cập đến sự tin tưởng vào tính an toàn, hiệu quả của tiêm chủng, và năng lực của hệ thống chăm sóc sức khỏe. Tính thuận tiện đòi hỏi sự sẵn có, khả năng chi trả và việc cung cấp vắc-xin. Tổ chức SAGE đã xây dựng bảng tính toán mức độ do dự tiêm vắc-xin để sử dụng trong cộng đồng, theo đó 10 câu hỏi thành phần đã được thu thập theo thang đo Likert 5.
Sự do dự tiêm vắc-xin được tính toán theo kết quả thu thập được của 10 câu hỏi trên, giá trị tính toán được càng cao thì sự do dự tiêm vắc-xin càng mạnh (23). Tỷ lệ chấp nhận vắc-xin COVID-19 ước tính là 73,31%, dao động từ 43,38% đến 94,31% ở các quốc gia và khu vực. Con số này tương tự với dữ liệu được báo cáo bởi các nghiên cứu trước đó (24).