CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU Nâng cao chất lượng công tác KCB ở tuyến y tế cơ sở là góp phần thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân ở ngay nơi mình sinh sống. Đây là một trong những biện pháp căn bản giảm gánh nặng quá tải cho các bệnh viện tuyến trên, giúp người ốm không phải chờ đợi mệt mỏi và tiêu tốn thời gian, chi phí đi lại. Các nhà nghiên cứu đều nhận định chung rằng có nhiều yếu tố tác động đến mức độ sử dụng dịch vụ KCB tuyến cơ sở của người dân, có những yếu tố phụ thuộc vào phía người cung cấp dịch vụ và có những yếu tố phụ thuộc vào phía người sử dụng dịch vụ. Một trong các yếu tố về phía người cung cấp dịch vụ có ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng dịch vụ của người dân là hiệu quả hoạt động.
Công tác KCB tại PKĐKKV Tân Bình được đánh giá một cách toàn diện bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm đầu tư (cơ sở hạ tầng, TTB, nhân lực, thuốc), quá trình hoạt động (thời gian chờ đợi, quan hệ thầy thuốc - người bệnh. Như vậy muốn khuyến khích người dân đến KCB tại PKĐKKV Tân Bình ngày càng nhiều thì cần phải nâng cao hiệu quả công tác KCB [21].1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Tiếp cận dịch vụ y tế: Là khả năng mà người sử dụng khi cần có thể sử dụng tại nơi cung cấp dịch vụ. Tiếp cận bao hàm cả sự đánh giá, cách nhìn nhận dịch vụ y tế trong tầm suy nghĩ của người dân về loại hình dịch vụ này qua các yếu tố không gian, thời gian, chi phí và chất lượng dịch vụ.
Đo lường sự tiếp cận của cộng đồng với sử dụng tại nơi cung cấp dịch vụ y tế phụ thuộc nhiều yếu tố. Cung cấp dịch vụ y tế: Tính sẵn có của dịch vụ y tế: Tính sẵn có của dịch vụ đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc tiếp cận dịch vụ của mọi người dân. Tại phòng khám tính sẵn có được đánh giá qua tiêu chí thời gian hoạt động của PK được đảm bảo, các dịch vụ kỹ thuật được triển khai đầy đủ theo Quyết định số 23/2005/QĐ-BYT ngày 5 30/8/2005 của Bộ Y tế về việc quy định phân tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh. Cơ sở hạ tầng: Là một trong những yếu tố quan trọng của tất cả các cơ sở y tế.
Cơ sở hạ tầng đảm bảo thì chất lượng y tế được nâng lên và sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến với cơ sở y tế nhiều hơn. Trang thiết bị: Là nhu cầu không thể thiếu đối với một cơ sở y tế. Trang thiết bị trạm y tế xã, phường được quy định tại Quyết định số 437/QĐ-BYT ngày 20/2/2002 của Bộ Y tế về việc ban hành danh mục trang thiết bị y tế bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã. Thuốc chủ yếu: Thuốc cung ứng thường đi kèm với dịch vụ khám chữa bệnh đó là một nhu cầu tất yếu.
Bộ Y tế ban hành Danh mục thuốc chủ yếu cứ 3 đến 5 năm một lần dựa trên tiêu chuẩn phù hợp với mô hình bệnh tật, tình hình kinh tế xã hội cũng như các tiến bộ về công nghệ trong sản xuất dược. Hiện tại danh mục thuốc chủ yếu tại PK được quy định tại Quyết định số 05/2008/QĐ-BYT ngày 01/2/2008 của Bộ Y tế về việc ban hành Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở KCB. Nhân lực y tế: Nhìn chung nhân lực y tế không thiếu về số lượng, mà thiếu về cơ cấu và yếu về chuyên môn. Căn cứ vào nhiệm vụ và nhu cầu về chăm sóc sức khỏe nhân dân, định mức biên chế, cơ cấu nhân lực của phòng khám khu vực, trạm y tế xã, phường, thị trấn được quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT- BYT-BNV ngày 05/6/2007 của liên Bộ Nội vụ - Bộ Y tế, hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước.3 Sử dụng dịch vụ KCB Người sử dụng dịch vụ KCB ở PKĐKKV: Là người bệnh đến khám bệnh (chữa bệnh ngoại trú) hoặc nằm điều trị nội trú tại PKĐKKV, không kể các trường hợp đỡ đẻ, dịch vụ KHHGĐ, tư vấn sức khoẻ [5].
Trong nghiên cứu này người sử dụng dịch vụ KCB tại PKĐKKV là người bệnh đến KCB tại PKĐKKV Tân Bình. Người bệnh: Là người có tình trạng bất thường về sức khoẻ và tinh thần kéo dài từ một ngày trở lên [5]. Trường hợp bệnh trong nghiên cứu này là những người có mắc ít nhất một bệnh hoặc triệu chứng của bệnh nào đó trong một tháng 6 qua làm ảnh hưởng đến sinh hoạt, lao động, học tập hàng ngày của bản thân và gia đình. Người bệnh mua thuốc về nhà tự điều trị: Là những người khi mắc bệnh tự mua các loại thuốc tân dược về nhà điều trị, không được thầy thuốc khám bệnh và không có sự chỉ dẫn của thầy thuốc.
Người bệnh khám chữa bệnh ở y tế tư nhân: Là người bệnh đến khám, điều trị hoặc mua thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh, DVYT và quầy thuốc tư nhân (hợp pháp hoặc không hợp pháp). Người bệnh không điều trị gì: Là người bệnh không sử dụng bất cứ loại dịch vụ nào. Người bệnh khám chữa bệnh ở tuyến trên: Là người bệnh đến khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú hoặc nằm điều trị nội trú tại các Bệnh viện tuyến huyện, tỉnh và trung ương … Khám bệnh: là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị cho phù hợp đã được công nhận [12]. Sử dụng thuốc của người bệnh: Là những người bệnh trong vòng một tháng qua có sử dụng thuốc tân dược với tất cả các trường hợp tự mua về chữa, mua theo đơn của người thầy thuốc hoặc thuốc được dùng trong quá trình nằm điều trị nội trú tại bệnh viện.
- Chủ hộ gia đình: là người đại diện cho hộ, được các thành viên trong hộ thừa nhận. - Hộ gia đình: Là những người sống chung ăn chung trong một mái nhà, dùng chung một bếp ăn ít nhất 3 tháng, có quan hệ vợ chồng, huyết thống hoặc có chia sẻ thông tin với nhau. Thu nhập: Là bình quân thu nhập đầu người trong gia đình/tháng quy ra tiền, xếp từ thu nhập từ thấp đến cao [5]. Đánh giá thu nhập gia đình theo quy định của Thủ tướng Chính phủ 2011 [26].
Hộ nghèo ở nông thôn có mức thu nhập bình quân <400.000 đồng/ người/ tháng, vùng thành thị có mức thu nhập bình quân < 7 500 000 đồng/ người/ tháng. Hộ cận nghèo ở nông thôn có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/ người/ tháng, vùng thành thị có mức thu nhập bình quân từ 501.000đồng/ người/ tháng. Khoảng cách: Là khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế bằng phương tiện thông thường và có sẵn tại địa phương. Dưới 30 phút là gần, 30 – 60 phút là trung bình và trên 60 phút là xa (Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Hòa tại Sóc Sơn, Hà Nội năm 2001[25].
Sự hài lòng của người sử dụng: Biểu thị thái độ của người tiếp xúc trực tiếp và sử dụng thực tế DVKCB đối với cơ sở cung cấp DVKCB. Sự hài lòng được đánh giá bằng chính người sử dụng hay bằng ý kiến chung của người dân với loại hình cung cấp DVKCB đó. Sự hài lòng của người bệnh biểu hiện tổng hợp của những yếu tố như: Thái độ của nhân viên y tế, chất lượng cung cấp dịch vụ, trang thiết bị y tế, hiệu quả điều trị, giá dịch vụ [22] [37].2 Mô hình bệnh tật (ICD -10) tại PKĐKKV [4]. Nhóm bệnh tuần hoàn: THA, bệnh về tim, viêm tắc tỉnh mạch.
Nhóm bệnh về hệ thần kinh: mất ngủ, đau đầu, suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, viêm dây thần kinh, rối loạn thần kinh thực vật. Nhóm bệnh cơ xương khớp: Các bệnh về khớp, thoái hóa cột sống, loãng xương, gù, vẹo cột sống, đau lưng, viêm cơ. Nhóm bệnh tiêu hóa: U thực quản, viêm loét hành tá tràng, HCDD, Rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, viêm đại tràng, sỏi túi mật, viêm gan, Xơ gan Nhóm nhiễm siêu vi: sốt cảm cúm. Nhóm bệnh hô hấp: Viêm mũi, viêm xoang, viêm họng, viêm amygđal, viêm phế quản, hen phế quản, lao phổi.
Nhóm bệnh về mắt: Bệnh viêm kết mạc, viêm giác mạc, củng mạc, mù lòa, đục thủy tinh thể. Nhóm bệnh nội tiết chuyển hóa: Đái tháo đường, rối loạn đường huyết, basedow 8 1. Một số nghiên cứu về thực trạng sử dụng dịch vụ KCB của người dân 1. Thực trạng sử dụng dịch vụ KCB ở một số nước trên thế giới Tại Trung Quốc chi phí cho y tế vào khoảng 12% so với tổng chi phí của hộ gia đình, trong đó 15,7% số hộ phải vay tiền để chi phí cho việc CSSK, 8,8% số hộ phải nợ bệnh viện, 5,6% hộ phải bán tài sản của gia đình sau khi đi KCB và 3,3% số hộ phải nhờ đến sự cứu trợ của Chính phủ dành cho bệnh tật [38] [37].
Điều tra việc sử dụng dịch vụ CSSK ở vùng nông thôn Ấn Độ trên 200 hộ gia đình thấy rằng 52% sử dụng y học hiện đại, 26% sử dụng YHCT, 6% tự xử lý, 16% vừa sử dụng y học hiện đại vừa sử dụng YHCT [33]. Tại Thái Lan, Chính phủ tổ chức các trung tâm CSSKBĐ ở các làng, bản làm nghiệm vụ CSSK cho nhân dân ở tuyến cơ sở. Ngân sách hoạt động của trung tâm được hình thành từ nhiều quỹ, trong đó quỹ thẻ BHYT chiếm từ 13,5-20% tuỳ điều kiện đóng góp ở mỗi năm. Quỹ CSSKBĐ không những chi cho hoạt động KCB thông thường mà còn chi cho các hoạt động phòng bệnh như: Giám sát môi trường, tiêm chủng mở rộng, giáo dục sức khoẻ.
Nghiên cứu cho thấy chất lượng cung cấp DVYT ảnh hưởng tới tiếp cận và sử dụng của người dân. Ở nông thôn chỉ có 15,5% và 0,8 lần tiếp xúc/người/năm tìm kiếm DVYT nhà nước [35]. Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở Việt Nam Năm 1980, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định mọi người dân được KCB không phải trả tiền. Các hoạt động của ngành y tế là dựa vào ngân sách Nhà nước và một số nguồn viện trợ từ nước ngoài.