Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm, thông tin, số liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu 1. Khái niệm sứ dụng Vắc xin là vật liệu chế từ các vi sinh vật hoặc các kháng nguyên đặc hiệu của chúng để đưa vào cơ thể người gây miễn dịch chủ động cho cộng đồng phòng bệnh truyền nhiễm do chính các vi sinh vật tương ứng gây ra [15]. Tiêm chủng là việc đưa vắc xin vào cơ thể con người với mục đích tạo cho co thé kha năng đáp ứng miễn dịch để dự phòng bệnh tật [11].
Dây chuyển lạnh (DCL) là hệ thông thiết bị nhằm bảo quản và vận chuyển vắc xin theo đúng nhiệt độ quy định từ nhà sản xuất đến người sử dụng, bao gồm buồng lạnh, xe lạnh, tủ lạnh, tủ đá, hòm lạnh, phích vac xin. Phản ứng sau tiêm chủng (PƯSTC) là hiện tượng bất thường về sức khỏe bao gồm các biểu hiện tại chỗ tiêm chủng hoặc toàn thân xảy ra sau tiêm chủng, không nhất thiết do việc sử dụng vắc xin, bao gồm phản ứng thông thường sau tiêm chủng và tai biến nặng sau tiêm chủng. Tai biển nặng sau tiêm chủng là phản ứng bất thường sau tiêm chủng có thé đe dọa đến tính mạng người được tiêm chủng (bao gồm các triệu chứng như khó thở, sốc phản vệ hay sốc dạng phản vệ, hội chứng sốc nhiễm độc, sốt cao, co giật, trẻ khóc kéo dài, tím tái, ngừng thở) hoặc để lại di chứng hoặc làm người được tiêm chủng tử vong. Lịch tiêm chủng theo Quyết định số 845/QĐ-BYT ngày 17/3/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế [2].
Lịch tiêm chủng trẻ em dưới 1 tuỗi [4] STT Tuổi của trẻ Vắc xin sử dụng - Tiêm vắc xin Viêm gan B (VGB) mũi 0 trong 24 giờ 1 Sơ sinh. dau sau sinh STT Tuổi của trẻ Vắc xin sử dụng - Tiém vac xin BCG phòng bệnh lao - Tiêm vắc xin bạch hầu - ho gà - uốn ván - viêm gan B - 2 2 tháng Hib mũi 1 (vắc xin 5 trong 1) - Uống vắc xin bại liệt lần I - Tiêm vắc xin bạch hầu - ho gà - uốn ván - viêm gan B - 3 3 tháng Hib mũi 2 - Uống vắc xin bại liệt lần 2 - Tiêm vắc xin bach hau - ho ga - uốn ván - viêm gan B - 4 4 tháng Hib mãi 3 - Uống vắc xin bại liệt lần 3 on 9 thang - Tiêm vắc xin sởi mũi 1 1. Chương trình tiêm chủng mở rộng.1 Trên thể giới * Lịch sử phát minh và phát triển vắc xin Năm 1796 Edward Jenner, một bác sĩ người Anh đã tìm ra được vắc xin phòng đậu mùa và chứng minh được tác dụng của nó một cách khoa học. Những năm sau đó chương trình TCMR được thực hiện ở các nước công nghiệp phát triển và vắc xin phòng đậu mùa được đưa vào tiêm chủng đầu tiên.
Tiếp theo là vắc xin BCG (phòng bệnh lao, năm 1930-1940), vắc xin bại liệt tiêm (1955), vắc xin bại liệt uống năm 1962 [12]. Từ năm 1974, WHO đã đề xướng và vận động các nước thành viên thực hiện một chương trình có ích trong khuôn khổ các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu. Mục đích của chương trình này là mở rộng, phát triển công tác tiêm chủng cho toàn thể trẻ em trên thế giới, đặc biệt là trẻ em ở các nước đang phát triển. Ước tính hàng năm tại các nước này có khoảng 100 triệu trẻ em sinh ra cần được tiêm chủng.
Nhưng trong những năm 70 của thế kỷ trước mới có khoảng 20% được tiêm chủng, vì vậy hàng năm ở các nước này vẫn có khoảng 5 triệu trẻ em bị chết (trung bình mỗi phút bị chết 10 trẻ) và 5 triệu trẻ em khác bị tàn tật, di chứng vì các bệnh truyền nhiễm ở trẻ em là bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, bại liệt, lao [12]. Mục tiêu của chương trình TCMR do WHO vận động là phấn đấu đến năm 1990 cho tất cả trẻ em trên thế giới đều được tiêm chủng phòng 6 bệnh nhiễm trùng nguy hiểm và phổ biến nhất đối với trẻ em và có vắc xin đặc hiệu dé bao vệ. Mức độ nguy hại của các bệnh trên đây đối với tính mạng, sức khỏe, sự phát triển của trẻ em là rõ ràng. Hiệu lực bảo vệ cao (80-95%) của các vắc xin hiện nay đối với những bệnh này, và kết quả của chương trình thanh toán bệnh đậu mùa trên phạm vi toàn thế giới (từ sau ca bệnh đậu mùa cuối cùng xảy ra ở Somalia ngày 26/10/1977), đó là những lý do khiến WHO và các nước thành viên, các tổ chức trên thế giới đề ra và tích cực hưởng ứng, thực hiện TCMR, coi đây là một chương trình trọng điểm, một nhiệm vụ chủ chốt của hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Tiêm chủng phòng được bệnh tật, mỗi năm có từ 2-3 triệu trẻ chết, thế nhưng ước tính 18,7 triệu trẻ dưới 1 tuổi trên thế giới vẫn còn thiếu những mũi vắc xin cơ bản [12]. * Tỷ lệ tiêm chủng Chương trình TCMR được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những chương trình chăm sóc sức khoẻ thiết thực, hiệu quả nhất thực hiện công ước quốc tế về quyền trẻ em và tiếp tục trở thành chương trình ưu tiên của mọi nước sau năm 2000. Theo số liệu báo cáo của WHO và UNICEF năm 2002 trên thế giới có khoảng 33 triệu trẻ em không được TCĐĐ. Trong năm 2013, khoảng 112 triệu trẻ em trên thế giới nhận 3 liều vắc xin DPT.
Có 129 quốc gia đã đạt được tỷ lệ tiêm chủng ít nhất 90% vắc xin [24]. Mặc dù tỷ lệ tiêm chủng tăng dần qua các năm nhưng vẫn không đồng đều giữa các khu vực trên thế giới. Số liệu ước tính của WHO và ƯNICEF năm 2006 ở một số khu vực tỷ lệ tiêm chủng còn thấp như khu vực châu Phi 73%, Trung Đông 86%, Đông Nam A 63%. Những nước có tỷ lệ trẻ em TCĐĐ thấp (<90%) là những nước kém phát triển, những nơi đang có chiến tranh.
Trong 193 quốc gia thực hiện Chương trình TCMR vẫn còn 10 quốc gia, vùng lãnh thổ có tỷ lệ tiêm chủng thấp dưới 50% như: Afganistan, Iraq, Somalia, Liberia [26]. Tại Việt Nam * Lịch sử phát triển Năm 1981 chương trình TCMR được triển khai thí điểm tại Việt Nam với sự hỗ trợ của WHO và UNICEF. Dén nim 1985, chương trình TCMR được đây mạnh và được triển khai ở 100% tỉnh, thành trong cả nước với 6 loại vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm nguy hiểm là lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, bại liệt. Năm 1997, Chính phủ quyết định đưa thêm 4 vắc xin mới vào TCMR là vắc xin viêm gan B, viêm não Nhật Bản B, tả, thương hàn.
Từ tháng 6/2010, chương trình TCMR. triển khai tiêm miễn phí vắc xin mới phòng bệnh viêm phổi/viêm màng não mủ do vi khuẩn Hib phối hợp các vắc xin phòng bệnh bạch hầu - ho gà - uốn ván - viêm gan B cho trẻ em dưới 1 tuổi, đánh dấu vắc xin thứ 11 được đưa vào TCMR ở Việt Nam [26]. Giai doan thi diém (1981-1984 ): Trong giai doan thi diém Chuong trinh chu yếu sử dụng hình thức tiêm chủng chiến dịch (tiêm chủng hàng loạt) trên một số địa bàn có nguy cơ cao. Hình thức tiêm chủng thường xuyên (TCTX) hàng tháng bắt đầu được áp dụng ở một số địa bàn có điều kiện thuận lợi vả từng bước được mở rộng.
Hết giai đoạn thí điểm đã có 50% số tỉnh triển khai Chương trình TCMR. Tuy nhiên, tỷ lệ huyện và xã triển khai còn rất thấp [4]. Giai đoạn mở rộng dịch vụ tiêm chủng trong cả nước (1985-1990): Ngày 05/12/1985, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay gọi là Thủ tướng Chính phủ) Phạm Văn Đồng ký Chỉ thị số 373-CT về việc đây mạnh Chương trình TCMR cho trẻ em trong cả nước. Thực hiện Chỉ thị trên, năm 1986 đã có 100% số tỉnh và 60% số huyện trong cả nước triển khai Chương trình TCMR.
Đến năm 1989, đã có 100% số huyện với trên 90% số xã triển khai Chương trình. Kết thúc giai đoạn 1986-1990 đã có 40/40 (100%) tỉnh, 530/530 (100%) huyện triển khai Chương trình TCMR. Tuy nhiên còn 3,6% số xã với gần 400 xã vùng núi, vùng sâu, vùng xa chưa triên khai được công tác tiêm chủng. Trong giai đoạn này có sự kết hợp giữa 3 hình thức là tiêm chủng chiến dịch (TCCD) với tiêm chủng định kỳ (TCĐK) và TCTX.
Tỷ lệ địa bàn áp dụng hình thức TCTX tăng dần. Nhiều xã bắt đầu áp dụng TCTX hàng tháng vào một ngày nhất định, tạo ra lịch tiêm cố định và thuận lợi cho người dân [6]. Giai đoạn xóa xã trắng về TCMR (1991-1995): Mặc dù số xã chưa triển khai TCMR trong năm 1990 chỉ chiếm khoảng 3,6% tổng số xã trong cả nước song đây lại là những địa bàn rất khó khăn do thiếu điều kiện giao thông, cơ sở y tế, lưới điện. Mặt khác đây lại là vùng sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc ít người, của những người nghèo, thiếu cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế, do vậy việc xoá các xã trắng về tiêm chủng là một mục tiêu cấp bách song hết sức khó khăn [6].
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Y tế, thực hiện Chương trình Kết hợp quân dân y (Chương trình 12), đặc biệt là sự kết hợp của Quân y Bộ đội Biên phòng, ngành y tế từng bước xoá các xã trắng về TCMR và đạt mục tiêu này vào năm 1995. Việc xóa xã trắng về TCMR có thê được coi là một thành công kỳ diệu của ngành y tế Việt Nam khi biết rằng nước ta có tới 4.734 xã biên giới, miền núi, hải đảo, chiếm 42,5% tổng SỐ Xã, phường, thị trấn trên toàn quốc [5]. Giai đoạn duy trì và nâng cao chất lượng Chương trình (1996-2010): Trên cơ sở thành quả đã đạt được, từ năm 1996 Chương trình TCMR phấn đấu duy trì diện bao phủ thường xuyên trên toàn quốc, đồng thời tập trung hoạt động để nâng cao các mặt chất lượng tiêm chủng. Những mục tiêu chính ở giai đoạn này là: - Duy trì tỷ lệ TCĐĐ cho trẻ dưới 1 tuổi luôn đạt mức cao trên 90% ở quy mô tuyến huyện.
- Nâng cao tỷ lệ hình thức TCTX hàng tháng ở đơn vị tuyến xã, kết hợp chặt chẽ với hình thức TCCD, gồm cả chiến dịch toàn quốc, chiến dịch theo khu vực hoặc chiến dịch nhỏ đáp ứng cho từng địa bàn (huyện, xã, nhà trường, khu dân cư.) có nguy cơ cao hoặc xảy ra dịch. - Tăng cường chỉ đạo, giám sát, hỗ trợ đối với những vùng triển khai tiêm chủng gặp nhiều khó khăn như ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo.