Luận văn thực trạng tiêm chủng đầy đủ đúng lịch cho trẻ dưới 1 tuổi và một số yếu tố liên quan tại huyện phù mỹ bình định năm 2016

Chuyên khảo phân tích Luận văn thực trạng tiêm chủng đầy đủ đúng lịch cho trẻ dưới 1 tuổi và một số yếu tố liên quan tại, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

111
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng tiêm chủng đúng lịch cho trẻ dưới 1 tuổi

Nghiên cứu tại huyện Phù Mỹ, Bình Định năm 2016 cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch cho trẻ dưới 1 tuổi chỉ đạt 24,7%, thấp hơn so với báo cáo của Trung tâm Y tế huyện. Mặc dù tỷ lệ trẻ được tiêm đủ 8 loại vaccine rất cao (>99%), việc tuân thủ lịch tiêm chủng vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân chính bao gồm sự thiếu ổn định của nhân lực chuyên trách, sự phối hợp kém giữa các ban ngành, và thông tin về phản ứng sau tiêm chủng gây lo lắng cho các bà mẹ.

1.1. Tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch

Tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch tại huyện Phù Mỹ chỉ đạt 24,7%, thấp hơn 10,7% so với số liệu báo cáo. Điều này cho thấy sự chênh lệch giữa thực tế và báo cáo, phản ánh sự thiếu chính xác trong công tác giám sát và báo cáo.

1.2. Nguyên nhân không tuân thủ lịch tiêm

Các nguyên nhân chính bao gồm: nhân lực chuyên trách tiêm chủng mở rộng không ổn định, sự phối hợp kém giữa các ban ngành, và thông tin về phản ứng sau tiêm chủng gây lo lắng cho các bà mẹ. Những yếu tố này đã ảnh hưởng đến việc tuân thủ lịch tiêm chủng.

II. Yếu tố liên quan đến tiêm chủng đúng lịch

Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố như kiến thức của bà mẹ, sự hỗ trợ từ gia đình, và đặc điểm nhân khẩu học có ảnh hưởng đến việc tiêm chủng đúng lịch. Các bà mẹ làm nghề nông/nội trợ có tỷ lệ tuân thủ lịch tiêm cao hơn gấp 2,28 lần so với các nhóm khác. Ngoài ra, kiến thức về tiêm chủng và sự hỗ trợ từ người chồng cũng là yếu tố quan trọng.

2.1. Kiến thức của bà mẹ

Kiến thức của bà mẹ về tiêm chủng đóng vai trò quan trọng trong việc tuân thủ lịch tiêm. Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về mục đích tiêm chủng là 98,7%, nhưng kiến thức về lịch tiêm và phản ứng sau tiêm chủng chỉ đạt 7,7% và 7,6%.

2.2. Sự hỗ trợ từ gia đình

Sự hỗ trợ từ gia đình, đặc biệt là người chồng, có ảnh hưởng tích cực đến việc tuân thủ lịch tiêm chủng. Các bà mẹ nhận được sự hỗ trợ từ gia đình có tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch cao hơn.

III. Thách thức và khuyến nghị

Nghiên cứu chỉ ra các thách thức chính trong việc thực hiện tiêm chủng mở rộng tại huyện Phù Mỹ, bao gồm sự thiếu ổn định của nhân lực chuyên trách, sự phối hợp kém giữa các ban ngành, và thông tin về phản ứng sau tiêm chủng. Các khuyến nghị bao gồm tăng cường truyền thông, cải thiện chất lượng báo cáo, và hỗ trợ kỹ năng tư vấn cho cán bộ y tế.

3.1. Thách thức trong thực hiện tiêm chủng

Các thách thức chính bao gồm sự thiếu ổn định của nhân lực chuyên trách, sự phối hợp kém giữa các ban ngành, và thông tin về phản ứng sau tiêm chủng gây lo lắng cho cộng đồng.

3.2. Khuyến nghị cải thiện

Các khuyến nghị bao gồm tăng cường truyền thông về tiêm chủng mở rộng, cải thiện chất lượng báo cáo, và hỗ trợ kỹ năng tư vấn cho cán bộ y tế để giải quyết các tình huống phản ứng sau tiêm chủng.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu kỷ nguyên phát triển của vắc xin[19]. Tiếp theo là vắc xin CG (năm 1930 – 1940), vắc xin ại liệt tiêm (năm 1955), vắc xin ại liệt uống (năm 1962). Đến năm 1974, ảy loại văc xin được đưa vào chương trình TCMR ao gồm: đậu mùa, lao, ạch hầu, uốn ván, ho gà, ại liệt tiêm/uống và sởi. Thời gian đầu chỉ có xấp xỉ 5% số đối tượng được tiêm chủng ở các nước phát triển.

WHO phát động chiến lược mở rộng diện triển khai và tăng tỷ lệ tiêm chủng ở các khu vực và các quốc gia. Dần dần, chương trình TCMR là một chương trình quốc gia ưu tiên của hầu hết các nước trên thế giới, ở cả các nước phát triển và đang phát triển[41]. Mục tiêu chiến lược về tiêm chủng toàn cầu: (Tổ chức Y tế thế giới đưa ra đến năm 2010 và 2015)[40]. - Tiêm chủng phòng nhiều ệnh hơn cho nhiều đối tuợng.

- Triển khai thêm các văc xin mới. - Đưa ra các chỉ tiêu sức khoẻ và chỉ tiêu giám sát ệnh trong tiêm chủng. - Quản lý tiêm chủng và hoạt động tiêm chủng toàn cầu. * Đến năm 2010 hoặc sớm hơn: - Tăng tỷ lệ tiêm chủng: Các quốc gia đạt tỷ lệ tiêm chủng vắc xin ít nhất là 80% trên quy mô toàn quốc và 80% trên quy mô huyện hoặc tuyến tương đương.

- Giảm số chết do sởi. Giảm 90% so với năm 2000. * Đến năm 2015 hoặc sớm hơn: - Duy trì tỷ lệ tiêm chủng. - Giảm số mắc và số chết các ệnh trong chương trình tiêm chủng.

-6- - Đảm ảo vắc xin tiêm chủng chất lượng. - Củng cố hệ thống tiêm chủng. - Đảm ảo duy trì công tác tiêm chủng. Tỷ lệ tiêm chủng Chương trình TCMR được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những chương trình chăm sóc sức khỏe thiết thực, hiệu quả nhất thực hiện công ước quốc tế về quyền trẻ em và tiếp tục trở thành chương trình ưu tiên của mọi nước sau năm 2000[41].

Theo số liệu áo cáo của WHO và UNICEF năm 2002 trên thế giới vẫn có khoảng 33 triệu trẻ em không được tiêm chủng đầy đủ. Có 129 quốc gia đã đạt được tỷ lệ tiêm chủng ít nhất là 90% của vắc xin DPT3[44]. Mặc dù tỷ lệ tiêm chủng DPT3 tăng dần qua các năm nhưng vẫn không đồng đều giữa các khu vực trên thế giới. Số liệu ước tính của WHO và UNICEF năm 2006 ở một số khu vực tỷ lệ tiêm chủng còn thấp như khu vực Châu phi (73%), Trung Đông (86%) và Đông Nam Á (63%).

Những nước có tỷ lệ trẻ em tiêm chủng đầy đủ thấp (dưới 90%) là những nước đang và kém phát triển, những nơi đang có chiến tranh. Trong số 193 quốc gia thực hiện chương trình TCMR, vẫn còn 10 quốc gia, vùng lãnh thổ có tỷ lệ tiêm vắc xin DPT3 dưới 50% như: Afganistan, Iraq, Somalia, Liberia[34]. Chƣơng trình tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam 1. Lịch sử phát triển Chương trình TCMR ắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 do ộ Y tế khởi xướng với sự hỗ trợ của WHO và UNICEF.

Chương trình an đầu là cung cấp dịch vụ tiêm chủng miễn phí cho trẻ em dưới 1 tuổi, ảo vệ trẻ khỏi mắc 6 loại ệnh truyền nhiễm phổ iến và gây tử vong cao. Sau một thời gian thí điểm, Chương trình từng ước được mở rộng dần cả về địa àn và đối tượng tiêm chủng. Từ năm 1985 tới nay toàn ộ trẻ em dưới 1 tuổi trên toàn quốc đã có cơ hội được tiếp cận -7- với Chương trình TCMR. Đến năm 2010, đã có 11 vắc xin phòng ệnh truyền nhiễm phổ iến, nguy hiểm cho trẻ em được đưa vào chương trình TCMR ao gồm vắc xin phòng ệnh lao, ạch hầu, ho gà, uốn ván, ại liệt, viêm gan , sởi, viêm não Nhật ản, tả, thương hàn, viêm phổi/viêm màng não mủ do Hib.

Đến tháng 6 năm 2010, Chính phủ đã phê duyệt cho phép sử dụng vắc xin “5 trong 1” phòng chống 5 ệnh truyền nhiễm ( ạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan , viêm phổi và viêm màn não do Hi ) trong chương trình TCMR, khởi đầu giai đoạn nâng cao chất lượng tiêm chủng. Tuy nhiên, cũng trong thời gian này chương trình TCMR đã gặp phải một số thách thức lớn cản trở việc triển khai tiêm chủng. Đó là các thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng về các phản ứng nặng sau tiêm chủng mà điển hình là 3 trẻ tử vong ở Quảng Trị sau tiêm vắc xin viêm gan. Tổng kết 2 năm 2012 - 2013 về tiêm vắc xin “5 trong 1”, có đến 9 trường hợp tử vong được áo cáo.

Chính vì vậy mà Việt Nam đã quyết định dừng tiêm vắc xin “5 trong 1” từ tháng 5 năm 2013 để kiểm tra chất lượng vắc xin. Mặc dù chất lượng vắc xin “5 trong 1” được ảo đảm và đã được triển khai tiêm lại từ tháng 10/2013 nhưng cũng gây một sự hoang mang nhất định trong cộng đồng. Đến đầu năm 2014, dịch sởi tại Việt Nam đã ảnh hưởng đến hơn 5000 trẻ em và 140 trường hợp tử vong. Để ngăn chặn dịch lây lan, ảo đảm phòng ệnh cho cộng đồng, Việt Nam với sự hỗ trợ của Liên hợp quốc đã phát động chiến dịch tiêm phòng vắc xin sởi – ru ella lớn nhất từ trước đến nay nhằm tăng cường tỷ lệ ao phủ của hai loại vắc xin này tới tất cả những trẻ em khó tiếp cận nhất với mục tiêu loại trừ ệnh sởi vào năm 2017[18].

Cùng với các hoạt động về chuyên môn, ộ Y tế đã ra quyết định số: 4282/QĐ- YT năm 2014 về kế hoạch truyền thông về tiêm chủng nhằm nâng cao nhận thức, niềm tin và thay đổi hành vi của người dân và cộng đồng về phòng ệnh ằng vắc xin, an toàn tiêm chủng nhằm góp phần nâng cao tỷ lệ tiêm chủng[6]. Các hình thức tiêm chủng áp dụng tại Việt Nam Từ điều kiện thực tế về địa lý, giao thông đòi hỏi phải triển khai các hình thức tiêm chủng thích hợp ở Việt Nam như sau: Tiêm chủng thường xuyên (TCTX): uổi tiêm chủng được tổ chức hàng tháng và mỗi tháng chỉ tổ chức tiêm chủng trong 1 - 3 ngày cố định. Tuyến xã là nơi tiêm hầu hết các mũi vắc xin trong chương trình TCMR cho đối tượng trẻ em và phụ nữ có thai/nữ ở tuổi sinh đẻ. Tại mỗi xã có thể có một hoặc nhiều điểm tiêm chủng.

Ở hầu hết các xã, điểm tiêm chủng cố định tại TYT xã là hình thức cơ ản nhất, tại các xã này uổi tiêm chủng được tổ chức vào một ngày hoặc một số ngày cố định trong tháng. Riêng vắc xin viêm gan , do khuyến cáo của chương trình là tiêm trong vòng 24 giờ đầu sau khi sinh nên liều sơ sinh được các trạm y tế thực hiện ất cứ khi nào có trẻ được sinh ra. Ở những vùng đồng ằng, điều kiện giao thông thuận tiện, không quá xa, người dân dễ dàng tiếp cận với dịch vụ y tế, mỗi xã chỉ có một điểm tiêm chủng tại trạm y tế. Tiêm chủng định kỳ (TCĐK): Tại một số vùng rất khó tiếp cận, do khó khăn về điều kiện địa lý, giao thông, dân cư thưa thớt (mùa mưa, đi lại khó khăn, có khi không có đường vào xã, thôn ản) nên mỗi năm chỉ có thể tổ chức tiêm vắc xin cho trẻ từ 3 đến 6 lần.

Với hình thức tiêm chủng này trẻ không thể được tiêm chủng đúng lịch mà chỉ cố gắng đảm ảo cho trẻ nhận đủ các liều vắc xin quy định. Do hạn chế về chất lượng của việc tiêm chủng định kỳ nên các địa phương càng ngày càng cố gắng khắc phục khó khăn như cung cấp tủ lạnh tại xã để ảo quản vắc xin trước mùa mưa, tăng cường phối hợp với ộ đội iên phòng, quân y. để chuyển dần sang hình thức tiêm chủng thường xuyên hàng tháng. Tiêm chủng lưu động (TCLĐ): Cán ộ y tế đến tiêm “vét” tại nhà các đối tượng xa TYT hoặc vì ất kỳ lý do gì không đi tiêm chủng.

Trước đây, hình thức này khá phổ iến. Tuy nhiên từ năm 2007, ộ Y tế đã có quy định không tiến hành tiêm chủng theo hình thức này nhằm tăng cường an toàn và chất lượng tiêm chủng. -9- Khoa Sản của các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện chỉ tiêm vắc xin viêm gan B liều sơ sinh cho những trẻ sinh tại các bệnh viện này. Một số bệnh viện thực hiện tiêm vắc xin BCG cho trẻ sơ sinh cùng với vắc xin viêm gan B.

Các hình thức triển khai tiêm chủng trên toàn quốc đến năm 2014 Số điểm tiêm Hình thức tiêm chủng Số xã TC Số xã TC Khu vực Số xã Tại trạm Ngoài trạm thƣờng xuyên định kỳ Miền ắc 6.499 41 Tây Nguyên 581 581 780 579 2 Miền Nam 2. Trong năm 2014 cả nước có 11.178 xã, tăng 10 xã so với năm 2013. Việc triển khai công tác tiêm chủng tại 100% số xã trên toàn quốc cho thấy chương trình TCMR có khối công việc lớn, mạng lưới rộng, đòi hỏi đầu tư về nhân lực, vật lực. ên cạnh việc nỗ lực triển khai tiêm chủng thường xuyên tại phần lớn các xã, vẫn còn 66 xã tổ chức tiêm chủng định kỳ là những xã miền núi, hải đảo.

Những thành tựu của Chương trình TCMR Việt Nam Chương trình TCMR đã được Bộ Y tế và các tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những chương trình Y tế công cộng hiệu quả và thành công nhất ở Việt Nam. Chính nhờ có chương trình TCMR hàng năm chúng ta đã ảo vệ được cho hàng triệu trẻ không bị mắc, không bị chết cũng như các di chứng của các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, phổ biến. Bảo vệ cho hàng triệu phụ nữ và trẻ sơ sinh không ị mắc uốn ván trong sản khoa. Không có một chương trình phòng ệnh nào lại hiệu - 10 - quả với độ bao phủ trên 11.000 xã/phường/thị trấn, 704 huyện/thị xã của cả nước được tiêm chủng.

Hơn 1,5 triệu trẻ em, gần 1,6 triệu phụ nữ có thai được bảo vệ hàng năm với khoảng 50 triệu mũi tiêm để phòng 12 bệnh nguy hiểm phổ biến nhất liên quan đến sự sống còn của trẻ em. Việt Nam được WHO công nhận là chấm dứt hoàn toàn bệnh đậu mùa từ năm 1979; thanh toán bệnh bại liệt từ năm 2000 và loại trừ bệnh uốn ván sơ sinh vào năm 2005. Kế hoạch quốc gia trong thời gian tới là loại trừ bệnh sởi vào năm 2017 và giảm tỷ lệ nhiễm viêm gan vi rút B ở trẻ dưới 5 tuổi xuống 1% trước năm 2020[25].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực trạng tiêm chủng đúng lịch cho trẻ dưới 1 tuổi và yếu tố liên quan tại huyện Phù Mỹ, Bình Định 2016 là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ lịch tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi tại huyện Phù Mỹ, Bình Định. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng tiêm chủng mà còn chỉ ra các rào cản và giải pháp tiềm năng để cải thiện tỷ lệ tiêm chủng, từ đó nâng cao sức khỏe cộng đồng. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhân viên y tế và phụ huynh quan tâm đến sức khỏe trẻ em.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao tỉnh Lào Cai, nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về tình trạng suy dinh dưỡng và các yếu tố liên quan. Ngoài ra, Luận văn thực trạng tự kỳ thị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang điều trị HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2017 cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về các vấn đề tâm lý xã hội trong chăm sóc sức khỏe.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu về môi trường và sức khỏe, Luận văn đánh giá sự tích lũy kim loại nặng trong đất trồng rau huyện Hoài Đức, Hà Nội sẽ là một lựa chọn phù hợp, cung cấp thông tin về tác động của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe con người.