Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh đái tháo đường 1. Định nghĩa Theo Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ năm 2008: “ĐTĐ là một nhóm các bệnh chuyển hóa được đặc trưng bởi tăng đường máu mạn tính do hậu quả của sự thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của insulin hoặc kết hợp cả hai. Tăng đường máu mạn tính trong ĐTĐ làm tổn thương, rối loạn và suy chức năng của nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt là các tổn thương ở mắt, thận, thần kinh và tim mạch” [9], [25].
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường Năm 2015, ADA (American Diabetes Association) đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ khi có 1 trong các tiêu chuẩn sau: - HbA1c ≥ 6,5% được thực hiện tại phòng xét nghiệm đã được chuẩn hóa theo chương trình chuẩn hóa glycohemoglobin Quốc gia. - Glucose máu lúc đói (nhịn ăn 8-14 giờ) ≥ 1,26 g/l (≈ 7mmol/l), làm 2 lần cách biệt, lần thức 2 cách lần thứ 1 từ 1 - 7 ngày. - Glucose máu ở thời điểm bất kỳ ≥ 2g/l (≈ 11,1 mmol/l ) có kèm theo triệu chứng của tăng glucose máu kinh điển hoặc tăng glucose máu cấp tính. - Nghiệm pháp glucose máu: Cho uống 75g glucose hòa tan vào nước, sau 2 giờ làm nghiệm pháp tăng đường huyết ≥ 2g/l (≈ 11,1mmol/l).
Nếu trong trường hợp tăng glucose máu không rõ ràng thì các tiêu chí cần được thực hiện lại để phục vụ công tác chẩn đoán. Hiện nay, tại Việt Nam cũng đã sử dụng tiêu chuẩn HbA1c để chẩn đoán ĐTĐ, tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng cơ sở mà có những vận dụng khác nhau [10]. Phân loại đái tháo đường 1. Đái tháo đường type 1 (ĐTĐ phụ thuộc insulin) ĐTĐ type 1 là do sự phá hủy tế bào Bê-ta của tuyến tụy, nên tụy không sản xuất ra đủ lượng insulin cần thiết cho cơ thể.
Phần lớn xảy ra ở trẻ em, người trẻ tuổi và thường có yếu tố tự miễn. Ở Việt Nam chưa có số liệu điều tra quốc gia, nhưng theo thống kê từ các bệnh viện thì tỷ lệ mắc ĐTĐ type 1 vào khoảng 7 – 8% tổng số người bệnh ĐTĐ [27]. Đái tháo đường type 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin) Đặc trưng của ĐTĐ type 2 là kháng insulin làm giảm tác dụng của insulin. ĐTĐ type 2 thường được chẩn đoán rất muộn vì giai đoạn đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu chứng.
Khi bệnh có biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các biến chứng thận, mắt, thần kinh, tim mạch. nhiều khi các biến chứng này đã ở mức độ rất nặng [28]. ĐTĐ type 2 là thể thường gặp nhất chiếm tỷ lệ khoảng 90% các thể ĐTĐ, thường gặp ở những người trưởng thành trên 40 tuổi. Tuy nhiên, trong một vài thập kỷ 5 gần đây thì ĐTĐ type 2 không còn xa lạ ở nhóm người trẻ.
Tỷ lệ ĐTĐ tăng nhanh ở những lứa tuổi này liên quan đến tỷ lệ tăng béo phì ở trẻ nhỏ trên thế giới. Có 30-50% trẻ em thừa cân béo phì có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ [29]. Đái tháo đường khác ĐTĐ thai kỳ thường gặp ở phụ nữ có thai (chiếm 1-2% người mang thai), do đường huyết tăng hoặc giảm dung nạp glucose, thường gặp khi có thai lần đầu và mất đi sau đẻ. Người mẹ bị ĐTĐ thai kỳ có nguy cơ cao mắc bệnh ĐTĐ thực sự sau này (ĐTĐ type 2).
Một số thể khác như khiếm khuyết chức năng tế bào do gen, giảm hoạt tính của insulin do khiếm khuyết gen, bệnh lý của tụy ngoại tiết, do các bệnh nội tiết khác… [29]. Yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường Qua tổng quan tài liệu, chúng tôi nhận thấy có nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ và người ta thường chia ra thành các nhóm chính như sau: Trước tiên là yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong bệnh ĐTĐ type 2. Có tới 60% đến 100% các cặp sinh đôi cùng trứng mắc bệnh ĐTĐ type 2. Bố mẹ bị ĐTĐ thì con (hoặc ngược lại tức là thế hệ cận kề) có khả năng mắc bệnh ĐTĐ tới 40%, nếu mẹ bị mắc bệnh ĐTĐ, khả năng con bị mắc bệnh cao hơn so với bố.
Nếu cả bố và mẹ cùng mắc bệnh ĐTĐ thì con có khả năng mắc bệnh tới 70% [29] Tiếp theo, các nguyên nhân về nhân chủng học cũng là yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ như tỷ lệ mắc và tuổi mắc bệnh ĐTĐ thay đổi theo sắc tộc, có những nhóm sắc tộc nhạy bén với ĐTĐ như ở Tây Ban Nha, người da đen, Nam Á. Đặc biệt, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi, lối sống, người béo phì ít hoạt động thể lực, chế độ ăn uống không hợp lý, hút thuốc lá, uống rượu bia nhiều… cũng là yếu tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ. Tình trạng thiếu hụt các yếu tố vi lượng hoặc vitamin góp phần làm thúc đẩy sự tiến triển bệnh ở người trẻ tuổi cũng như người cao tuổi. Các yếu tố khác có thể là yếu tố nguy cơ của ĐTĐ bao gồm cuộc sống có nhiều áp lực tinh thần, lối sống phương tây hóa, thành thị hóa [29].
Biến chứng của bệnh đái tháo đường 1. Biến chứng cấp tính Biến chứng cấp tính của bệnh ĐTĐ thường là hậu quả của chẩn đoán muộn, điều trị không thích hợp, hoặc nhiễm khuẩn cấp tính. Biến chứng cấp tính có thể đe dọa tính mạng người bệnh, thường hay gặp ở các quốc gia đang phát triển. Nhiễm toan ceton và hôn mê do nhiễm toan ceton là một biến chứng gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, nguyên nhân là thiếu insulin đã gây ra rối loạn nặng nề trong chuyển hóa protein, lipid và carbohydrate.
Tỷ lệ tử vong cao 5-10% trong nhóm người bệnh ĐTĐ [30]. Biến chứng mãn tính Người ta phân loại biến chứng mãn tính theo mạch máu và thần kinh. Biến chứng mạch máu bao gồm biến chứng mạch máu lớn (xơ vữa mạch vành, xơ vữa mạch não, bệnh mạch máu ngoại vi) và biến chứng mạch nhỏ (bệnh võng mạc, bệnh lý cầu 6 thận). Biến chứng thần kinh bao gồm bệnh lý thần kinh giác quan-vận động (đoạn xa- chi dưới, đoạn xa-chi trên, bệnh lý một dây thần kinh, loét thần kinh, teo cơ ĐTĐ, chứng suy mòn thần kinh), bệnh lý thần kinh tự động (liệt dạ dày, bệnh bàng quang do thần kinh, liệt dương,.), bệnh lý phối hợp giữa thần kinh và mạch máu [30].
Phòng chống biến chứng ở người bệnh đái tháo đường Biến chứng của bệnh ĐTĐ là điều không thể tránh khỏi nhưng có thể can thiệp để giảm mức độ các biến chứng và làm chậm quá trình xây xảy ra các biến chứng ở người bệnh ĐTĐ [28]. Phòng ngừa biến chứng cấp tính Các biến chứng cấp tính được phòng ngừa bằng cách người bệnh phải được hướng dẫn cách tự theo dõi lượng glucose máu và ceton niệu, tuân thủ chế độ điều trị, chế độ ăn uống, liên hệ đến khám ngay khi mắc thêm các bệnh khác [28]. Phòng ngừa biến chứng mãn tính Người bệnh ĐTĐ được cung cấp những kiến thức để lựa chọn một chế độ sinh hoạt, luyện tập phù hợp với tình trạng bệnh lý của mình, kiểm soát tốt glucose máu. Điều trị tích cực kết hợp điều chỉnh các rối loạn chuyển hóa lipid, các rối loạn đông máu, hạn chế tình trạng dễ viêm nhiễm, tăng hoạt động thể lực, giảm cân, loại bỏ thói quen không có lợi cho bệnh như hút thuốc lá, uống rượu… [28].
Thực trạng bệnh đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới Các công trình nghiên cứu về tính chất dịch tễ bệnh ĐTĐ cho thấy: tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng lên hàng năm, cứ 15 năm thì tỷ lệ tăng lên gấp đôi, tuổi càng tăng thì tỷ lệ mắc bệnh càng cao, từ 65 tuổi trở lên tỷ lệ này lên tới 16%. ĐTĐ được xếp vào một trong ba bệnh thường gặp gây tàn phế và tử vong cao nhất đó là xơ vữa động mạch, ung thư, ĐTĐ. TCYTTG đã lên tiếng “báo động” về mối lo ngại này trên toàn thế giới: Triệu người Biểu đồ 1.1: Sự phát triển đái tháo đường trên thế giới qua các năm [11].
Tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới tăng dần theo các năm. Sau 17 năm (từ năm 2000 đến năm 2017) tỷ lệ này tăng cao gần gấp 3 lần, theo số liệu thống kê thì 7 năm 2000 trên thế giới có 151 triệu người đến năm 2017 con số này tăng lên là 425 triệu người. Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi theo từng nước có nền công nghiệp phát triển hay đang phát triển, thay đổi theo từng dân tộc, từng vùng địa lí khác nhau. Theo IDF số lượng người bệnh đái tháo đường thống kê năm 2017 và dự tính năm 2045 theo phân vùng địa lý như sau [11]: Bảng 1.
Số lượng người bệnh đái tháo đường thống kê và dự tính theo vùng Năm 2017 Dự tính năm 2045 Tỷ lệ tăng STT Khu vực (triệu người) (triệu người) (%) Bắc Mỹ và vùng 1 46 62 35 Caribbean Trung Đông và 2 39 82 110 Bắc Phi 3 Châu Âu 58 67 16 4 Nam và Trung Mỹ 26 42 62 5 Khu vực Nam Phi 16 41 156 6 Đông Nam Á 82 151 84 Khu vực Tây Thái 7 159 183 15 Bình Dương Năm 2017, trên toàn thế giới có khoảng 425 triệu người bị ĐTĐ chiếm 5,6% dân số thế giới. Trong đó khu vực Tây Thái Bình Dương là 159 triệu người, khu vực Đông Nam Á là 82 triệu người, Châu Âu có 58 triệu người, Bắc Mỹ và vùng Caribbean có 46 triệu người. Cũng theo thống kê của IDF thì Trung Quốc là nước có số lượng người đái tháo đường cao nhất thế giới khoảng 114 triệu người. Khoảng một nửa những người trưởng thành đang ở trong thời kỳ tiền ĐTĐ, đã rối loạn chuyển hóa lượng đường nhưng chưa được phát hiện và chẩn đoán xác định [11].
Tình hình mắc bệnh ĐTĐ tại Việt Nam Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người bệnh ĐTĐ đang gia tăng nhanh chóng. Thập niên 90, tỷ lệ ĐTĐ tăng dần lên ở các thành phố lớn. Tại Hà Nội, năm 1990 tỷ lệ này là 1,2% (nội thành 1,44%, ngoại thành 0,63%), sau hơn 10 năm (2002), một nghiên cứu được tiến hành trên cùng một địa điểm, cùng nhóm tuổi và phương pháp nghiên cứu giống năm 1990 cho thấy tỷ lệ bệnh ĐTĐ đã tăng lên gấp đôi (2,16%). Tại Thành phố Hồ Chí Minh (1993) tỷ lệ ĐTĐ type 2 là 2,52% , năm 2001 tỷ lệ bệnh ĐTĐ ở nội thành là 2,5% và tỷ lệ này tăng gấp 2,5 lần sau 8 năm (6,9% so với 2,5%) [28].