CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Môhình tổ chức bệnh viện đa khoa và quy định nhân lực y tế tại bệnh viện ở Việt Nam 1. Khái niệm bệnh viện đa khoa Bệnh viện được coi là nơi thực hiện công tác khám chữa bệnh cho nhân dân, nơi đào tạo và tiến hành các nghiên cứu khoa học, nới xúc tiến các hoạt động chăm sóc sức khỏe và ở một mức độ nào đó là nơi trợ giúp thực hiện các nghiên cứu y sinh học. Theo khái niệm của WHO, bệnh viện là một phần không thể thiếu của một tổ chức y tế xã hội, có chức năng cung cấp cho dân cư các dịch vụ chữa trị và phòng bệnh toàn diện, cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại gia đình, bệnh viện cũng là trung tâm đào tại các nhân viên y tế và trung tâm nghiên cứu y sinh học [22].
Bệnh viện đa khoa là bệnh viện có đủ các chuyên khoa, khác với bệnh viện chuyên khoa là những bệnh viện tập trung vào một số chuyên khoa sâu. Bệnh viện đa khoa có các quy mô khác nhau từ bệnh viện đa khoa trung ương đến các bệnh viện tỉnh và huyện [22]. Mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và định mức biên chế BVĐK 1. Chức năng của bệnh viện Bệnh viện là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có chức năng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh [4].
Nhiệm vụ của bệnh viện[9] Nhiệm vụ của bệnh viện bao gồm: - Khám bệnh, chữa bệnh - Đào tạo cán bộ y tế - Nghiên cứu khoa học về y học - Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật - Phòng bệnh - Hợp tác quốc tế - Quản lý kinh tế 5 Khám bệnh, chữa bệnh: - Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài hoặc từ các Bệnh viện khác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú hoặc ngoại trú. - Tổ chức khám sức khỏe, chứng nhận sức khỏe theo quy định của nhà nước. - Có trách nhiệm giải quyết hầu hết các bệnh tật trong tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương và các ngành. - Tổ chức khám giám định sức khỏe, khám giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa tỉnh, thành phố hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu.
- Chuyển người bệnh lên tuyến trên khi tình trạng người bệnh ngoài khả năng giải quyết của bệnh viện. Đào tạo cán bộ y tế: - Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế các bậc học. - Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên môn. Nghiên cứu khoa học về y học: - Tổ chức nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu các đề tài y học cấp Cơ sở, cấp Bộ hoặc cấp Nhà nước, chú trọng nghiên cứu về y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc.
- Nghiên cứu triển khai dịch tễ học cộng đồng trong công tác CSSK ban đầu lựa chọn ưu tiên thích hợp trong địa bàn tỉnh, thành phố và các ngành. - Kết hợp với bệnh viện tuyến trên và các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để phát triển kỹ thuật của bệnh viện. Phòng bệnh: - Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thường xuyên thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh và phòng dịch. Phân hạng bệnh viện Theo thông tư số 03/2004/TT-BYT ngày 03/03/2004 về hướng dẫn xếp hạng bệnh viện, quy định bệnh viện được phân làm 5 hạng: Bệnh viện hạng đặc biệt, Bệnh viện hạng I, Bệnh viện hạng II, Bệnh viện hạng III và Bệnh viện hạng IV.
Nguyên tắc xếp hạng bệnh viện được dựa trên 5 nhóm tiêu chuẩn sau: - Vị trí, chức năng và nhiệm vụ 6 - Quy mô và nội dung hoạt động - Trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu lao động - Cơ sở hạ tầng - Thiết bị y tế, kỹ thuật chẩn đoán và điều trị 1. Bệnh viện hạng II Bệnh viện hạng II là bệnh viện trực thuộc tỉnh, thành phố với vai trò là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho tỉnh, thành phố trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương [5]. Định mức biên chế bệnh viện hạng II dựa trên các tiêu chuẩn xếp hạng, cụ thể như sau [3]: - Định mức biên chế theo loại hình làm việc: Làm việc theo Đơn vị Làm việc theo ca giờ hành chính Cơ sở khám, chữa bệnh đa khoa hạng II 1,10 – 1,15 1,40 – 1,45 Đơn vị tính: người/giường bệnh - Tỷ lệ cơ cấu bộ phận, chuyên môn: TT Cơ cấu Tỷ lệ/Tỷ số A Cơ cấu bộ phận 1 Lâm sàng 60 – 65% 2 Cận lâm sàng và Dược 22 – 15% 3 Quản lý, hành chính 18 – 20% B Cơ cấu chuyên môn Bác sỹ/chức danh chuyên môn y tế khác (Điều 1 1/3 – 1/3,5 dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên) 2 Dược sỹ Đại học/Bác sỹ 1/8 – 1/1,5 3 Dược sỹ Đại học/Dược sỹ trung học 1/2 – 1/2,5 7 1. Nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực y tế 1.
Khái niệm về nhân lực y tế Theo WHO (2006), nhân viên y tế là tất cả những người tham gia vào những hoạt động mà mục đích là nhằm nâng cao sức khỏe của người dân. Nói chính xác, theo nghĩa này thì người mẹ chăm sóc con ốm và những người tình nguyện trong lĩnh vực y tế cũng bao gồm trong nguồn nhân lực y tế. Họ góp phần quan trọng và quyết định việc thực hiện chức năng của hầu hết các hệ thống y tế. Tuy nhiên, dữ liệu có thể về số nhân viên y tế chủ yếu giới hạn trong những người tham gia vào các hoạt động được trả lương.
Cụ thể hơn, WHO định nghĩa nhân viên y tế là những người mà hoạt động của họ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe. Nhân viên y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: bác sỹ, điều dưỡng, dược sỹ, kỹ thuật viên và những người quản lý và nhân viên khác: nhân viên kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý [53]. Tuy nhiên, việc xếp loại nhân viên được trả lương cũng không phải đơn giản. Một số người trong các bệnh viện mà công việc của họ không trực tiếp nâng cao sức khỏe (người quản lý, nhân viên kế toán, lái xe, nhân viên vệ sinh…).
Mặt khác, những bác sỹ làm việc trong những công ty có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho công nhân, nhưng công ty đó không hoạt động nâng cao sức khỏe. Vì những lý do đó, nguồn lực y tế được xem là bao gồm những người hưởng lương trong những cơ quan/tổ chức có mục đích chính là nâng cao sức khỏe cũng như những người mà công việc của họ cũng là nâng cao sức khỏe nhưng làm việc trong những cơ quan, tổ chức khác[52]. Thực trạng nhân lực y tế trên thế giới 1. Số lượng nhân viên y tế Dựa trên số liệu thống kê của các quốc gia, các nguồn thống kê và giám sát về lao động, Tổ chức Y tế Thế giới (2006) ước tính có khoảng 59,2 triệu nhân viên y tế chính thức được trả lương trên toàn thế giới (Bảng 1.
Những người này đang làm việc tại những cơ sở y tế mà nhiệm vụ chính là cải thiện sức khỏe (như là các chương trình y tế hoạt động bởi các tổ chức chính phủ và phi chính phủ) và những nhân viên y tế trong những cơ sở không phải là y tế (như nhân viên y tế trong các 8 công ty, trường học). Người cung cấp dịch vụ y tế chiếm khoảng 2/3 tổng số nguồn nhân lực y tế toàn cầu, 1/3 còn lại là những người quản lý và nhân viên khác[52]. Nguồn nhân lực y tế trên Thế giới Tổng số Người cung cấp Người quản lý và nhân viên y tế DVYT nhân viên khác Khu vực theo Mật độ WHO % tổng số % tổng số Số lượng /1.000 Số lượng Số lượng NVYT NVYT dân số Châu Phi 1.000 17 Trung cận Đông 2.000 33 Tây Thái Bình 10.000 23 Dương Châu Âu 16.1 trình bày mật độ của 3 loại nhân viên y tế là bác sỹ, điều dưỡng và nữ hộ sinh, của 192 nước thành viên của WHO. Mật độ nhân viên y tế được tính là tỷ số nhân viên y tế trên 1.000 dân số, đây là thông tin đơn giản về tiếp cận với nguồn cung cấp dịch vụ y tế.
Kết quả này cho thấy sự mất cân bằng trong phân bố nhân viên y tế. 29/46 quốc gia của châu Phi có ít hơn 1.2 nhân viên y tế/1. Mật độ thấp của nhân viên y tế tại châu Phi phản ảnh sự thiếu khả năng đào tạo và duy trì đủ nguồn nhân lực y tế, nhiều cơ hội làm việc ở nước ngoài cũng như thiếu sự động viên, khích lệ đối với đội ngũ nhân viên y tế hiện có[37]. Mật độ nhân viên y tế (bác sỹ, điều dưỡng và nữ hộ sinh) trên dân số 192 quốc gia thành viên của WHOnăm 2006 Theo ước tính của WHO có 57/192 quốc gia thiếu hụt nhân viên y tế.
Cần phải có thêm 4,3 triệu nhân viên y tế, trong đó có 2,4 triệu bác sỹ, y tá, nữ hộ sinh để đáp ứng nhu cầu về y tế (Bảng 1. Số lượng bác sỹ, y tá, nữ hộ sinh thiếu hụt uớc tính theo các vùng của WHO (2006) Số quốc gia Số thiếu hụt nhân viên y tế Vùng theo WHO Số thiếu Ước tính Tổng số Số hiện có Tỷ lệ % NVYT thiếu hụt Châu Phi 46 36 590.992 139 Trung cận Đông 21 7 312.886 40 Tây Thái Bình Dương 27 3 27.560 119 Châu Âu 52 0 - - - Tổng cộng 192 57 3. Phân bố nhân viên y tế Nhân viên y tế được phân bố không đồng đều giữa các quốc gia. Những quốc gia có nhu cầu tương đối thấp lại có số nhân viên y tế rất cao, trong khi đó những quốc gia với gánh nặng bệnh tật lớn phải giải quyết vấn đề với nguồn nhân lực ít hơn.
Châu Mỹ chỉ có 10,0% gánh nặng bệnh tật của thế giới, nhưng có đến 37,0% nguồn nhân lực và 50,0% chi tiêu y tế trên toàn cầu. Ngược lại, châu Phi chịu hơn 24,0% gánh nặng bệnh tật nhưng chỉ tiếp cận với chỉ 3,0% nguồn nhân lực và ít hơn 1,0% chi tiêu y tế (Hình 1. Ghi chú: Kích thước của các chấm thể hiện tổng chi tiêu y tế Hình 1. Phân bổ nguồn lực, chi tiêu y tế và gánh nặng bệnh tật theo các vùng của WHO (2006) Trong những khu vực và quốc gia sự tiếp cận đối với nhân viên y tế cũng không đồng đều.
Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt địa lý được nhìn thấy trong mật độ nhân viên y tế.