CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và vai trò về phòng ngừa chuẩn 1. Khái niệm Nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế (sau đây gọi tắt là nhiễm khuẩn bệnh viện) là các nhiễm khuẩn xảy ra trong quá trình người bệnh được chăm sóc, điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [6]. Phòng ngừa chuẩn: là các biện pháp phòng ngừa cơ bản áp dụng cho mọi người bệnh không phụ thuộc vào chẩn đoán, tình trạng nhiễm trùng và thời điểm khám, điều trị, chăm sóc dựa trên nguyên tắc coi máu, chất tiết và chất bài tiết của người bệnh đều có nguy cơ lây truyền bệnh [6].
- Các hoạt động trong phòng ngừa chuẩn, phòng ngừa dựa theo đường lây truyền và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân, được quy định tại Thông tư 16/2018/TT-BYT, bao gồm các hoạt động + Tổ chức thực hiện các quy định về PNC, phòng ngừa dựa theo đường lây truyền và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân cho nhân viên y tế, học viên, người bệnh, người nhà người bệnh và khách thăm. + Thực hiện các biện pháp cách ly phòng ngừa phù hợp đối với người mắc hoặc nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và người bệnh nhiễm vi khuẩn đa kháng thuốc kháng sinh. + Hướng dẫn, nhắc nhở nhân viên y tế, học viên, người bệnh, người nhà người bệnh và khách thăm phải tuân thủ các biện pháp PNC, phòng ngừa dựa theo đường lây truyền và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân khi khám bệnh, điều trị và chăm sóc người bệnh. + Kiểm tra việc tuân thủ PNC, phòng ngừa dựa theo đường lây truyền và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân của nhân viên y tế học viên, người bệnh, người nhà người bệnh và khách thăm.
Cơ sở khoa học hoạt động phòng ngừa chuẩn Bảng 1. Một số tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bệnh Cách lây truyền Nhiễm khuẩn đường Vikhuân đường ruột: Salmonella, Shigella Phân, chất nôn tiêu hóa spp., Vibrio cholerae,Clostridium difcile. Nhiễm khuẩn hô hấp Vi khuẩn lao, virus Sởi, Không khí hít vào, Streptococcuspneumoniae, SARS,. nước bọt Nhiễm khuẩn mắt Herpesvirus Bài tiết mắt Nhiễm khuẩn đường Neisseriagonorrhoeae,herpesvirus Các chất bài tiết cơ sinh dục quan sinh dục Nhiễm khuẩn qua da Streptococcus spp Mủ Bệnh than Bacillus anthracis Bài tiết qua da Viêm màng não Neisseria meningitides Dịch não tủy AIDS HIV (Human immunodefciency Máu, bài tiết cơ quan virus) sinh dục, dịch cơ thể Sốt xuất huyết Junin, Lassa, Ebola và Marburg Tất cả dịch và sản virus phẩm từ máu Nhiễm khuẩn huyết Staphylococcus spp Máu Bệnh huyết khối Tụ cầu không men Coagulase: Dịch mũi, tiếp xúc da Staphylococcus spp.
(gồm methicillian-resistant S. aureus) Enterobacter, Enterococcus, Klebsiella vàStreptococcus spp Nhiễm Candidaemia Candida albicans Máu Nhiễm hepatitis A Hepatitis A virus Phân Nhiễm hepatitis B, C Hepatitis B virus và Hepatitis C virus Máu và dịch cơ thể Cúm gia cầm H5N1 virus Máu, phân Nguồn WHO (2014) [38] Khi hiểu được vai trò mỗi mắt xích trong chuỗi lây truyền bệnh sẽ kiểm soát được các bệnh truyền nhiễm bằng việc phá một trong các mắt xích lây truyền (Hình 4 1. Việc phá vỡ các mắt xích lây truyền bệnh truyền nhiễm có thể được thực hiện qua việc thực hiện tốt công tác PNC [42] Vi sinh vật gây bệnh Khối Nguồn cảm truyền nhiễm nhiễm Đường Đường xâm bài xuất nhập Phương thức lây nhiễm Hình 1. Chuỗi lan truyền bệnh truyền nhiễm Nguồn WHO (2014) [38] 1.
Các nội dung của phòng ngừa chuẩn Các nội dung trong PNC được định nghĩa khác nhau giữa các quốc gia và các tổ chức, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) PNC bao gồm 10 biện pháp, tuy nhiên Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) lại cho rằng PNC bao gồm 8 biện pháp [47], [42]. Tại Việt Nam, các nội dung PNC được xây dựng trên sự thống nhất giữa nội dung của WHO và CDC. Tài liệu về PNC được Bộ Y tế ban hành lần đầu tiên vào tháng 8/2012 nằm trong “Tài liệu đào tạo liên tục Kiểm soát nhiễm khuẩn cho nhân viên y tế tuyến cơ sở” [3] và đến tháng 9/2012 Bộ Y tế ban hành hướng dẫn về phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám chữa bệnh- kèm theo quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Y tế; trong đó PNC bao gồm 9 nội dung cơ bản là [2].1 Vệ sinh tay Vệ sinh tay là làm sạch tay bằng vòi nước với xà phòng có hay không có chất sát khuẩn tay với dung dịch có chứa cồn. Vệ sinh tay là nội cung cơ bản của PNC và là biện pháp hiệu quả nhất trong kiểm soát sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở khám chữa bệnh.
5 a)Phương tiện vệ sinh tay *Hóa chất vệ sinh tay - Mọi hóa chất vệ sinh tay sử dụng trong y tế phải được Bộ Y tế cấp phép sử dụng: Xà phòng thường; xà phòng khử khuẩn và dung dịch vệ sinh tay chứa cồn (isopropanol, ethanol, n-propanol hoặc kết hợp hai trong các thành phần này hoặc kết hợp với 1 chất khử khuẩn). - Các hóa chất vệ sinh tay cần có chất làm ẩm da hoặc chất dưỡng da, bình kính, bơm gạt tự động. *Bồn rửa tay - Bồn rửa tay ngoại khoa: Rộng, thành cao, có vòi cấp nước tự động hoặc cần gạt, quanh bồn không để phương tiện, đồ vật khác. - Bồn rửa tay thường quy: Vòi cấp nước có cần gạt hoặc khóa vặn hoạt động tốt; bồn sạch, quanh bồn không để phương tiện, đồ vật khác.
*Nước rửa tay - Nước rửa tay ngoại khoa: Nước vô khuẩn, ví dụ nước máy hoặc nước RO được khử khuẩn bằng tia cực tím hoặc được lọc qua màng siêu lọc. - Nước rửa tay thường quy: Nước sạch (ví dụ nước máy đạt tiêu quy chuẩn Quốc gia về nước sinh hoạt QCVN 02: 2009/BYT được cấp qua vòi có khóa hoạt động tốt). * Khăn lau tay - Khăn lau tay cho rửa tay thường quy: Khăn sạch sợi bông hoặc khăn giấy sử dụng một lần. Nếu là khăn sợi bông, cần giặt khử khuẩn sau mỗi lần sử dụng, được đựng trong hộp cấp khăn kín tại mỗi điểm rửa tay.
- Khăn lau tay cho vệ sinh tay ngoại khoa: Khăn sợi bông được hấp tiệt khuẩn hoặc khăn giấy vô khuẩn dùng một lần. Khăn cần được đóng gói theo cơ số vừa đủ cho một ca phẫu thuật và được cấp cùng bộ áo choàng vô khuẩn trong buồng phẫu thuật. Nếu áp dụng quy trình vệ sinh tay ngoại khoa bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn thì có thể sử dụng loại khăn giấy/khăn sợi bông sạch đựng trong thùng cấp khăn tại khu vực bồn rửa tay để lau khô tay trước khi chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn. * Trang bị phương tiện vệ sinh tay - Phương tiện vệ sinh tay thường quy phải luôn có sẵn ở mọi buồng phẫu thuật, thủ thuật, mọi khu vực chăm sóc người bệnh, khu hành chính, khu tiếp đón và các buồng vệ sinh.
Tại các khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao, các giường người bệnh nặng, xe 6 tiêm, xe thủ thuật, buồng phẫu thuật, thủ thuật cần được trang bị dung dịch vệ sinh tay chứa cồn. Các buồng thủ thuật, buồng hành chính, buồng người bệnh nặng, khu tiếp đón người bệnh và khu vệ sinh phải có bồn rửa tay. - Tại mỗi bồn rửa tay thường quy, ngoài xà phòng thường rửa tay cần trang bị đồng bộ các phương tiện khác gồm quy trình rửa tay, khăn lau tay sử dụng một lần và thùng thu gom khăn đã sử dụng (nếu là khăn sợi bông sử dụng lại) hoặc thùng chất thải thông thường (nếu sử dụng khăn giấy dùng một lần). - Phương tiện tại mỗi điểm vệ sinh tay ngoại khoa bằng xà phòng khử khuẩn gồm: (1) Bồn và nước rửa tay đạt chuẩn; (2) Dung dịch xà phòng chứa chlorhexidine 4%; (3) Bàn chải đánh kẽ móng tay tiệt khuẩn.
- Phương tiện tại mỗi điểm vệ sinh tay ngoại khoa bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn gồm: (1) Bồn và nước rửa tay đạt chuẩn; (2) Dung dịch xà phòng thường; (3) Dung dịch vệ sinh tay chứa cồn; (4) Khăn lau tay sạch hoặc được hấp tiệt khuẩn; (5) Bàn chải đánh kẽ móng tay tiệt khuẩn. Nhìn chung, nên ưu tiên lựa chọn dung dịch xà phòng thường và cồn vệ sinh tay cho vệ sinh tay thường quy và ngoại khoa. b)Thời điểm vệ sinh tay thường quy - Mọi đối tượng trực tiếp chăm sóc người bệnh cần rửa tay bằng nước và xà phòng thường hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn vào những thời điểm sau: + Trước khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi người bệnh. + Trước khi thực hiện mỗi thủ thuật sạch/vô khuẩn.
+ Ngay sau mỗi khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể. + Sau khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi người bệnh. + Sau tiếp xúc với bề mặt đồ dùng, vật dụng trong buồng bệnh. - Ngoài ra, các thời điểm chăm sóc sau cũng cần vệ sinh tay: + Khi chuyển từ chăm sóc bẩn sang chăm sóc sạch trên cùng người bệnh.
+ Trước khi mang găng và sau khi tháo găng. + Trước khi vào buồng bệnh và sau khi ra khỏi buồng bệnh. + Mọi nhân viên y tế trong buồng phẫu thuật không trực tiếp động chạm vào người bệnh (phụ mê, chạy ngoài, học viên.) phải vệ sinh tay trước khi vào buồng phẫu thuật. Trong buồng phẫu thuật, bất kỳ khi nào bàn tay chạm vào bề mặt thiết bị phương tiện phải vệ sinh tay ngay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn.
7 + Nhân viên y tế khi làm việc trong buồng xét nghiệm cần tuân thủ nghiêm thời điểm 3 và 5 về vệ sinh tay để phòng ngừa lây nhiễm cho bản thân. c)Kỹ thuật vệ sinh tay thường quy - Dù vệ sinh tay bằng xà phòng và nước hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn cần thực hiện theo kỹ thuật 6 bước: - Khi thực hiện quy trình vệ sinh tay thường quy cần lưu ý một số điểm sau: + Lựa chọn đúng phương pháp vệ sinh tay: Nếu bàn tay nhìn rõ vết bẩn hoặc dính các dịch tiết của cơ thể phải vệ sinh tay bằng nước và xà phòng thường. Chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn khi tay không trông rõ vết bẩn, sau tháo bỏ găng hoặc khi thăm khám giữa các người bệnh. + Tuân thủ đúng thời gian vệ sinh tay: Thời gian chà tay với hóa chất vệ sinh tay theo quy trình 6 bước phải đạt từ 20 giây-30 giây.
+ Không rửa lại tay bằng nước và xà phòng sau khi đã chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn.