ĐẶT VẤN ĐỀ An toàn người bệnh (ATNB), theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), là “làm giảm nguy cơ tổn hại không cần thiết liên quan đến chăm sóc sức khỏe đến mức tối thiểu chấp nhận được và có thể phòng ngừa được trong quá trình chăm sóc sức khỏe” (1). Tuy vậy, mất ATNB đang là một vấn đề hàng đầu của các cơ sở y tế trên toàn thế giới vì dù nền y học có tiến bộ đến đâu, sai sót y khoa là điều khó tránh khỏi (2). Ước tính, 16% người bệnh (NB) nội trú gặp phải sai sót y khoa hay thiếu các hoạt động đảm bảo ATNB. Sai sót y khoa chiếm tới 10-15% trong tổng số các trường hợp tử vong ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (3).
Đáng lưu ý, hơn 50% các sai sót này là có thể phòng tránh (4). ATNB là nguyên tắc hàng đầu trong chăm sóc sức khoẻ - “Điều đầu tiên không gây ảnh hưởng tổn hại cho người bệnh-First do no harm to patient” (5). Để tạo ra ATNB, một cơ sở y tế cần tạo ra được văn hoá an toàn người bệnh (VHATNB) thông qua các giải pháp giảm sai sót y khoa mang tính hệ thống (6). Xây dựng VHATNB là thay đổi mang tính hệ thống với mục tiêu thay đổi hành vi của từng nhân viên trong việc đảm bảo cung cấp dịch vụ một cách an toàn (7).
Tại Việt Nam các SSYK xảy ra ngày càng nhiều. Gần đây, các SSYK có thể kể đến như trả nhầm trẻ sơ sinh, dịch sởi do nhiễm khuẩn chéo (2014), tiêm nhầm vắc xin, hay chạy thận gây tử vong tại Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) tỉnh Hòa Bình,. Vấn đề ATNB là vấn đề nhức nhối tại các cơ sở y tế cần chung tay của nhà quản lý các cấp, NVYT, NB và người nhà NB. Do vậy, vấn đề ATNB là một thách thức cũng như yêu cầu cấp thiết tại tất cả các cơ sở y tế trong cả nước.
Trước thực trạng này, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản liên quan về công tác ATNB như "Hướng dẫn triển khai hoạt động quản lý chất lượng bệnh viện” (Thông tư 19/2013-TT-BYT) với yêu cầu triển khai 7 nội dung đảm bảo ATNB vào năm 2013 (8), "Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục về ATNB” vào năm 2014 (9) và "Hướng dẫn phòng ngừa sai sót y khoa tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” năm 2018 (10). Sở Y tế tại các tỉnh thành lớn cũng đã có nhiều hoạt động nhằm 2 tăng cường VHATNB. Năm 2019, Sở Y tế Hà Nội lựa chọn chủ đề "Hãy nói ra vì ATNB" còn Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh đã đề xuất sử dụng bộ công cụ HSOPSC- VN2015 trong các hoạt động nghiên cứu cũng như giám sát thường kỳ về ATNB tại các BV. Mức độ VHATNB của NVYT dù tương đối tốt ở các BV lớn nhưng có rất nhiều khác biệt khi so sánh giữa BV công và BV tư nhân (11-13).
Các nghiên cứu về VHATNB lại chủ yếu mới được thực hiện tại các tỉnh miền Nam và còn thiếu phân tích khó khăn và thách thức trong triển khai VHATNB tại từng cơ sở y tế để giúp lãnh đạo đưa ra các giải pháp phù hợp. Tại Đồng Tháp, Sở Y tế đã ban hành nhiều văn bản về hoạt động nâng cao chất lượng BV trong đó có ATNB nhằm tăng cường chất lượng dịch vụ cho NB. Trực thuộc Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp, Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Thanh Bình là đơn vị hạng III với 276 giường thực kê. Trung tâm hiện có có 221 NVYT đang công tác.
Tổng số lượt khám hàng năm gồm 172.205 lượt ngoại trú và 17.033 lượt NB nội trú và (14). Với chủ trương đẩy mạnh chất lượng, công tác ATNB đã được triển khai tại TTYT huyện Thanh Bình với việc áp dụng các biện pháp giảm thiểu sai sót y khoa như xây dựng và giám sát tuân thủ quy trình chuyên môn kỹ thuật, thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật… Tuy nhiên vẫn chưa có số liệu cụ thể về các khía cạnh liên quan tới VHATNB như cởi mở thông tin về sai sót, hành xử không buộc tội, tần suất báo cáo SSYK, làm việc nhóm, bàn giao và chuyển NB, nhân lực đáp ứng công việc. Vậy mức độ VHATNB của TTYT huyện Thanh Bình ra sao? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến VHATNB tại đây? Để trả lời câu hỏi này, nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB tại TTYT huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2021” được thực hiện. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng văn hoá an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại trung tâm y tế huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2021. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hoá an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại trung tâm y tế huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm chính 1.
Khái niệm sai sót y khoa Tai biến hay sai sót y khoa (hay còn gọi là SSYK) là “SSYK gây nguy hại cho NB ngoài ý muốn, xảy ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chăm sóc NB chứ không phải do bệnh lý hoặc cơ địa NB gây ra” (1). Hơn 50% sai sót y khoa có thể phòng ngừa (1). Sai sót y khoa (SSYK) được chia làm 3 mức độ: SSYK nặng “đòi hỏi NB phải được cấp cứu hoặc phải can thiệp sâu về điều trị nội khoa/ngoại khoa, gây mất chức năng vĩnh viễn hoặc gây tử vong cho NB”. SSYK trung bình “đòi hỏi can thiệp điều trị, kéo dài thời gian nằm viện, và ảnh hưởng đến chức năng lâu dài”.
SSYK nhẹ thì “NB tự hồi phục, chỉ cần điều trị tối thiểu hoặc không cần điều trị”. Một số thuật ngữ khác liên quan tới SSYK: - Lỗi (Error) là “thực hiện công việc không đúng quy định hoặc áp dụng các quy định không phù hợp” (1). - Tác hại (Harm) là “suy giảm cấu trúc hoặc chức năng của cơ thể hoặc ảnh hưởng có hại phát sinh từ sự cố đã xảy ra”. Tác hại bao gồm: bệnh, chấn thương, đau đớn, tàn tật và chết người (1).
- SSYK không mong muốn (Adverse Events - AE) được sử dụng thay cho thuật ngữ “sai sót chuyên môn và sai lầm y khoa” nhằm nhấn mạnh lỗi hệ thống chứ không phải bất cứ SSYK nào xảy ra cũng do NVYT. Về phân loại SSYK, Thông tư 43/2018/TT-BYT về “Hướng dẫn phòng ngừa SSYK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” phân loại theo mức độ tổn thương (10). Khái niệm Văn hoá an toàn người bệnh 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm chưa được thống nhất giữa các học giả.
Định nghĩa văn hoá rất phức tạp trong đó văn hoá thường bao gồm bốn đặc trưng cơ bản là “tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử” (15). Văn hóa là “một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (15). Cách định nghĩa này giúp bao quát nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau về văn hóa, đồng thời phân biệt được giữa hiện tượng văn hóa và phi văn hóa (16). Khái niệm văn hóa an toàn Reason và Hobbs năm 2003 đề xuất ba cấu phần chính của văn hóa an toàn là văn hóa học tập, văn hóa đúng, và văn hóa báo cáo (17).
Văn hóa đúng (còn gọi là văn hóa nội bộ) đề cao sự tin tưởng vào tổ chức và giữa các nhân viên trong một tổ chức. Văn hóa đúng là xác định rõ những gì được chấp nhận và không chấp nhận cũng như đảm bảo tính công bằng và trách nhiệm của mọi nhân viên. Văn hóa báo cáo là khuyến khích và tạo điều kiện cho việc báo cáo các sai sót liên quan tới an toàn cũng như cam kết khắc phục những sai sót này. Văn hóa học tập giúp tổ chức và từng nhân viên học hỏi từ các sai sót, hiện tượng suýt gây ra sai sót và xác định các vấn đề gây nguy cơ mất an toàn.
Ba thành phần này đan xen-nếu không có văn hóa đúng, sẽ không có các báo cáo lỗi-nếu không có văn hóa báo cáo, tổ chức sẽ không có cơ hội học hỏi và cải thiện (17). Khái niệm an toàn người bệnh An toàn người bệnh là “sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho NB trong quá trình điều trị và chăm sóc” (2). Cơ quan chất lượng và nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ (Agency for healthcare research and Quality - AHRQ) định nghĩa ATNB là “sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho NB trong quá trình điều trị và chăm sóc” (18). Bất kì hoạt động chăm sóc NB nào cũng ẩn chứa các nguy cơ sai sót (4).
Vì thế nguyên tắc hàng đầu và cơ bản nhất của thực hành y khoa với định hướng là “điều đầu 6 tiên không gây tổn hại cho NB”. Hoạt động y tế không thể hoàn thành nếu NB không cảm thấy an toàn hoặc trên thực tế, không an toàn. Nhưng hệ thống cung cấp dịch vụ vô cùng phức tạp và đảm bảo ATNB đòi hỏi những nỗ lực liên tục, tập trung của mọi NVYT. ATNB được ưu tiên số một trong cung cấp dịch vụ từ năm 1999 sau báo cáo chấn động của Viện Y học Hoa Kỳ (IOM) về ước tính có tới một triệu người bị thương và 98.000 người chết vì các SSYK tại Hoa Kỳ (19).
Sau đó, báo cáo tổng quan cũng ước tính số ca tử vong sớm liên quan đến các SSYK có thể phòng ngừa được là hơn 400. Hơn thế nữa, SSYK còn khiến cho 4 đến 8 triệu NB khác phải chịu hậu quả nghiêm trọng (20). Trong một thập kỷ tiếp theo sau báo cáo của IOM, chính phủ Hoa Kỳ và nhiều nước đã có nhiều nỗ lực để giảm các SSYK. Bác sĩ xem xét lại thực hành chăm sóc NB, các nghiên cứu tìm kiếm các bằng chứng tốt nhất trong chăm sóc và điều trị, và nhiều tổ chức đảm bảo chất lượng và ATNB được thành lập.
Khái niệm Văn hoá an toàn người bệnh Văn hoá an toàn người bệnh (VHATNB) là “tập hợp những giá trị, thái độ, niềm tin, nhận thức và những qui tắc qui phạm về an toàn của mọi nhân viên trong một bệnh viện” (21). Ở Việt Nam, theo Tăng Chí Thượng, “VHATNB là phương thức mà ATNB được tư duy, cấu trúc và thực hiện tại một BV.