ĐẶT VẤN ĐỀ An toàn người bệnh (ATNB) là làm giảm tối đa các sự cố y khoa có thể xảy ra từ đó giảm nguy cơ gây tổn hại cho người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc tại các cơ Sở Y tế (1). “Không gây ảnh hưởng tổn hại cho người bệnh – First do no harm to patient” là nguyên tắc hàng đầu của y khoa nhưng bất kể nền y học và y tế có tiến bộ đến đâu, sự cố y khoa (SCYK) hay sai sót y khoa là điều khó tránh khỏi (2). Ước tính tới 16% người bệnh nội trú gặp phải SCYK do thiếu ATNB trong bệnh viện. Đáng lưu ý là có tới hơn 50% các SCYK là có thể phòng tránh (3).
Vì vậy, ATNB đã và đang là một trong những thách thức lớn nhất trong công tác chăm sóc sức khỏe con người vì SCYK luôn gây ra những hậu quả nghiêm trọng tới sức khỏe và tính mạng của người bệnh, để lại những di chứng suốt đời hoặc tử vong (4). Để thúc đẩy công tác ATNB, cần tạo và thiết lập văn hóa ATNB (VHATNB) trong các cơ Sở Y tế (4). Xây dựng VHATNB giúp thay đổi tích cực suy nghĩ, thái độ và hành vi của nhân viên y tế liên quan đến ATNB. Tại Việt Nam, các SCYK xảy ra gần đây như trả nhầm trẻ sơ sinh, lây nhiễm chéo bệnh sởi trong bệnh viện (BV) (2014), sự cố tiêm nhầm vắc xin, sự cố chạy thận tại bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh Hòa Bình.
cho thấy vấn đề ATNB là vấn đề nhức nhối, là hồi chuông cảnh tỉnh tới các nhà quản lý các cấp, NVYT, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. Do vậy, vấn đề ATNB là một thách thức lớn cũng như yêu cầu cấp thiết cho các BV trong cả nước. Trên thực tế, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản liên quan về công tác ATNB như Hướng dẫn triển khai hoạt động quản lý chất lượng BV (TT19/2013-TT- BYT) với yêu cầu triển khai 7 nội dung đảm bảo ATNB vào năm 2013 (5), Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục về ATNB vào năm 2014 (6) và Hướng dẫn phòng ngừa SCYK tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh năm 2018 (7). Sở Y tế tại các tỉnh thành lớn cũng đã có nhiều hoạt động nhằm tăng cường VHATNB.
Năm 2019, Sở Y tế Hà Nội chọn chủ đề “Hãy nói ra vì sự an toàn của người bệnh” còn Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh đã sử dụng bộ công cụ HSOPSC-VN2015 trong các hoạt động nghiên cứu cũng như giám sát thường kỳ về VHATNB tại các BV. Mặc dù có nhiều nỗ lực như vậy nhưng mức độ 7 VHATNB của nhân viên y tế (NVYT) có rất nhiều khác biệt khi so sánh giữa BV công và BV tư nhân (8), (9), (10). Đồng thời, các nghiên cứu về VHATNB lại chủ yếu mới được thực hiện tại các tỉnh miền Nam và còn thiếu phân tích khó khăn và thách thức trong triển khai VHATNB tại từng Cơ sở y tế để giúp lãnh đạo đưa ra các giải pháp phù hợp. Bệnh viện đa khoa (BVĐK) Xanh Pôn là BV hạng I của Thủ đô Hà Nội với số thẻ BHYT đăng ký ban đầu khoàng 230.
Hàng ngày, bệnh viện có 2.000 lượt khám ngoại trú và 1.000 người bệnh nội trú. Tổng số ca phẫu thuật trong năm 2019 khoảng 15. Với phương châm “An toàn người bệnh – Hạnh phúc của chúng tôi”, công tác ATNB đã được triển khai tại BVĐK Xanh Pôn với việc áp dụng các biện pháp giảm thiểu SCYK như xây dựng và giám sát tuân thủ quy trình chuyên môn kỹ thuật, thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật, triển khai phần mềm báo cáo SCYK, khuyến khích việc báo cáo lỗi/sự cố và phạt nặng các trường hợp che giấu sự cố… Tuy nhiên kết quả tăng cường ATNB còn hạn chế, bệnh viện cũng chưa có số liệu cụ thể về các khía cạnh liên quan tới VHATNB như cởi mở thông tin về sai sót, hành xử không buộc tội, tần suất báo cáo sự cố, làm việc nhóm, bàn giao và chuyển bệnh nhân, nhân lực đáp ứng công việc. cũng như nhận định chung về ATNB, mức độ VHATNB của NVYT đang mức độ nào, các yếu tố nào ảnh hưởng, tác động đến VHATNB để từ đó BV có cơ sở tìm ra giải pháp khắc phục.
Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới Văn hóa An toàn người bệnh của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, năm 2020” 8 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng Văn hóa An toàn người bệnh của Nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2020. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến Văn hóa An toàn người bệnh của Nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm chính của luận văn 1. Khái niệm bệnh viện Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh viện (BV) là một bộ phận của một tổ chức mang tính chất y học và xã hội, có chức năng đảm bảo cho người dân được chăm sóc toàn diện về y tế kể cả khám bệnh, chữa bệnh và phòng bệnh. Công tác khám bệnh ngoại trú của BV tỏa tới các hộ gia đình đặt trong môi trường của nó. BV còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu y sinh học, xã hội (12).
Còn theo Bộ Y tế, BV là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh với 7 nhiệm vụ bao gồm (1) Khám bệnh, chữa bệnh; (2) Đào tạo cán bộ; (3) Nghiên cứu khoa học; (4) Chỉ đạo tuyến; (5) Phòng bệnh; (6) Hợp tác quốc tế; và (7) Quản lý kinh tế trong BV (13). Theo Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT về việc ban hành Quy chế BV của Bộ Y tế, BV đa khoa được chia làm 4 hạng. BV đa khoa hạng I là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế hoặc UBND tỉnh, thành phố và các Ngành có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. BV có đội ngũ nhân viên y tế có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, được trang bị hiện đại, có các chuyên khoa sâu, cơ sở hạ tầng phù hợp (13).
Khái niệm Sự cố Y khoa Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Sự cố Y khoa (hay còn gọi là Tai biến/Sai sót Y khoa) là sự cố gây nguy hại cho người bệnh ngoài ý muốn, xảy ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh chứ không phải do bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh gây ra. SCYK có thể phòng ngừa và không thể phòng ngừa (14). SCYK được phân thành 3 mức độ như sau: thứ nhất là nhóm tai biến nặng đòi hỏi người bệnh phải được cấp cứu hoặc phải can thiệp sâu về điều trị nội khoa/ngoại khoa, gây mất chức năng vĩnh viễn hoặc gây tử vong cho người bệnh; thứ hai là nhóm tai biến trung bình đòi hỏi can thiệp điều trị, kéo dài thời gian nằm viện, và ảnh hưởng đến chức 10 năng lâu dài, và cuối cùng là nhóm tai biến nhẹ, người bệnh tự hồi phục, chỉ cần điều trị tối thiểu hoặc không cần điều trị. Một số thuật ngữ khác liên quan tới sự cố/ SCYK: - Lỗi (Error): Thực hiện công việc không đúng quy định hoặc áp dụng các quy định không phù hợp (1).
- Tác hại (Harm): Suy giảm cấu trúc hoặc chức năng của cơ thể hoặc ảnh hưởng có hại phát sinh từ sự cố đã xảy ra. Tác hại bao gồm: bệnh, chấn thương, đau đớn, tàn tật và chết người (1). - Sự cố không mong muốn (Adverse Events - AE): Y văn của các nước sử dụng thuật ngữ “sự cố không mong muốn” ngày càng nhiều vì các thuật ngữ “sai sót chuyên môn, sai lầm y khoa” dễ hiểu sai lệch về trách nhiệm của nhân viên y tế và trong thực tế không phải bất cứ sự cố nào xảy ra cũng do nhân viên y tế. Về phân loại SCYK có nhiều cách phân loại, một số cách phân loại được sử dụng như phân loại SCYK theo tính chất chuyên môn, phân loại SCYK theo lỗi cá nhân và hệ thống, phân loại SCYK theo các yếu tố liên quan đến SCYK.
trình bày phân loại SCYK theo mức độ tổn thương theo thông tư 43/2018/TT-BYT (7). Phân loại Sự cố Y khoa theo mức độ tổn thương Hình thức Phân nhóm báo cáo Theo mức độ tổn STT Mô tả SCYK Theo diễn thương đến sức khỏe, biến tình tính mạng người bệnh huống (Cấp độ nguy cơ-NC) Tình huống có nguy cơ gây 1 A Chưa xảy ra (NC0) ra sự cố (near miss) Sự cố đã xảy ra, chưa tác 2 động trực tiếp đến người B bệnh Sự cố đã xảy ra tác động 3 trực tiếp đến người bệnh, C chưa gây nguy hại. Tổn thương nhẹ (NC1) Sự cố đã xảy ra tác động trực tiếp đến người bệnh, Báo cáo tự 4 cần phải theo dõi hoặc đã D nguyện can thiệp điều trị kịp thời nên không gây nguy hại Sự cố đã xảy ra gây nguy 5 hại tạm thời và cần phải can E thiệp điều trị Tổn thương trung bình Sự cố đã xảy ra, gây nguy hại tạm thời, cần phải can (NC2) 6 F thiệp điều trị và kéo dài thời gian nằm viện Sự cố đã xảy ra gây nguy 7 G hại kéo dài, để lại di chứng Sự cố đã xảy ra gây nguy Tổn thương nặng (NC3) Báo cáo bắt 8 hại cần phải hồi sức tích H buộc cực (kèm theo bảng SCYK Sự cố đã xảy ra có ảnh nghiêm trọng) 9 hưởng hoặc trực tiếp gây tử I vong Nguồn: Bộ Y tế, Thông tư 43/2018/TT-BYT hướng dẫn phòng ngừa SCYK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (7). Khái niệm Văn hóa An toàn người bệnh Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú và phức tạp, với nhiều đặc trưng, trong đó nổi lên bốn đặc trưng cơ bản nhất là tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử.
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình (15). Tóm lại, văn hóa bao gồm nhiều cách tiếp cận khác nhau và cần phân biệt nó với những hiện tượng khác không phải là văn hóa như hiện tượng phi giá trị, giá trị thiên tạo hay nhân tạo chưa có tính lịch sử… (16).