CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Văn hóa an toàn người bệnh Văn hóa an toàn người bệnh là phương thức mà sự an toàn của người bệnh được tư duy, cấu trúc và thực hiện tại một Bệnh viện. VHATNB được xem như nguyên tắc hàng đầu của thực hành y khoa, và được khái quát trong lời thề Hippocrates: “Điều đầu tiên không gây tổn hại cho người bệnh” [49].
Ủy ban tư vấn về an toàn công sở hạt nhân (ACSNI) (1993) định nghĩa sau đây về văn hóa an toàn có thể dễ dàng thích nghi với bối cảnh an toàn của người bệnh trong chăm sóc sức khỏe: “ Văn hóa an toàn của một tổ chức là sản phẩm của các giá trị cá nhân và nhóm, thái độ, nhận thức, năng lực, và mô hình hành vi để xác định cam kết, phong cách, sự thành thạo của quản lý sức khỏe và an toàn của một tổ chức. Các tổ chức có văn hóa an toàn tích cực đặc trưng bởi các liên lạc được thành lập dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, bởi nhận thức chung về tầm quan trọng của an toàn và niềm tin vào hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa” [25]. Theo Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, Mạng lưới an toàn người bệnh Hoa Kỳ (2017), các đặc điểm về "văn hoá an toàn" bao gồm: (1) Thừa nhận bản chất nguy cơ cao hoạt động của một tổ chức và quyết tâm đạt được các hoạt động liên tục an toàn; (2) Một môi trường không có lỗi, nơi mà các cá nhân có thể báo cáo lỗi mà không sợ khiển trách hoặc trừng phạt; (3) Khuyến khích hợp tác qua các cấp bậc và kỷ luật để tìm kiếm các giải pháp cho các vấn đề an toàn người bệnh; (4) Cam kết tổ chức các nguồn lực để giải quyết các mối quan ngại về an toàn [13]. Ngoài ra, AHQR đưa ra bảy bước khuyến nghị cho các bệnh viện cải thiện VHATNB trong các đơn vị.
Bảy bước đó là [13]: (1) Hiểu kết quả khảo sát. (2) Phổ biến và thảo luận về kết quả khảo sát. (3) Xây dựng kế hoạch hành động. (4) Phân công thực hiện kế hoạch (5) Thực hiện các kế hoạch hành động.
5 (6) Theo dõi tiến độ và đánh giá tác động. (7) Chia sẻ kết quả nghiên cứu 1. An toàn người bệnh An toàn người bệnh là sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc [44]. Sự cố y khoa Theo WHO: Sự cố y khoa không mong muốn là tác hại liên quan đến quản lý y tế (khác với biến chứng do bệnh) bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, sử dụng trang thiết bị y tế để cung cấp dịch vụ y tế.
Sự cố y khoa có thể phòng ngừa và không thể phòng ngừa [45]. Theo Bộ sức khỏe và dịch vụ con người của Mỹ: Sự cố không mong muốn gây hại cho người bệnh do hậu quả của chăm sóc y tế hoặc trong y tế [37]. Vai trò văn hóa an toàn người bệnh Xây dựng văn hoá an toàn người bệnh là hoạt động quan trọng sẽ làm thay đổi theo chiều hướng tích cực những suy nghĩ, thái độ và hành vi của nhân viên bệnh viện liên quan đến an toàn người bệnh. Lãnh đạo bệnh viện phải là người khởi xướng và cụ thể hoá việc xây dựng văn hoá an toàn người bệnh của bệnh viện bằng những hoạt động cụ thể và thiết thực, được thể hiện trong kế hoạch cải tiến chất lượng hàng năm của Hội đồng Quản lý chất lượng bệnh viện [9].
Khảo sát thực trạng văn hoá an toàn người bệnh của bệnh viện là hoạt động khởi đầu không thể thiếu giúp bệnh viện nắm bắt những suy nghĩ, thái độ và hành vi của nhân viên bệnh viện liên quan đến an toàn người bệnh. Xem kết quả khảo sát thực trạng văn hoá an toàn người bệnh là một trong những căn cứ thực tiễn quan trọng cho mọi hoạt động cải tiến chất lượng liên tục của bệnh viện hướng đến an toàn người bệnh. Với các lĩnh vực có tỉ lệ trả lời theo chiều hướng tích cực thấp, cần phân tích nguyên nhân gốc rễ để có giải pháp thích hợp là trách nhiệm của lãnh đạo bệnh viện [9]. Công cụ đánh giá văn hóa an toàn người bệnh Năm 2007, Cơ quan nghiên cứu và chất lượng y tế Hoa Kỳ đã xây dựng bộ công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh trong các môi trường khác nhau, trong 6 đó phiên bản dùng tại bệnh viện có tên là Hospital Survey on Patient Safety Culture (HSOPSC).
Hiện bộ câu hỏi đã được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu và được chứng minh là có giá trị trong phản ánh văn hóa an toàn người bệnh, đã được sử dụng để đánh giá văn hóa an toàn tại các hệ thống y tế [38]. Ngoài ra, thông qua việc lượng giá, HSOPSC còn được xem là công cụ có tính can thiệp lên hệ thống để cải thiện tình trạng văn hóa an toàn người bệnh [28], [29]. Mục đích của khảo sát nhằm cung cấp một chỉ số hữu hình về thực trạng hoạt động an toàn người bệnh của từng bệnh viện, từ đó làm cơ sở chính để tiến hành đánh giá hiệu quả của những cải tiến trong hoạt động an toàn người bệnh. Hiện nay trên thế giới đã áp dụng bộ công cụ và phương pháp nghiên cứu VHATNB của AHRQ cho kết quả đáng tin cậy.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trần Nguyễn Như Anh (2015) về “Văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Từ Dũ”, tác giả hình thành nhóm nghiên cứu tại bệnh viện với thành viên là 35 nhân viên chuyên trách mạng lưới quản lý chất lượng trực thuộc các khoa/phòng. Trong đó, tác giả xây dựng một nhóm bao gồm một bác sĩ lâm sàng, một bác sĩ cận lâm sàng, một dược sĩ, một nữ hộ sinh và một nhân viên hành chính dịch bộ câu hỏi HSOPSC từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Sau khi thống nhất về bản dịch, tác giả gửi bản dịch Anh – Việt đến hai nhân viên chuyên trách khác thuộc nhóm nghiên cứu để dịch ngược từ tiếng việt sang tiếng Anh nhằm xác định sự Việt hóa trong bộ câu hỏi vẫn tuân theo nội dung nguyên tác. Tác giả tiến hành thử nghiệm bản dịch bao gồm 35 thành viên khoa/phòng và mỗi thành viên sẽ đánh giá lỗi chính tả, ngữ nghĩa các câu có dễ hiểu, có nội dung gây hiểu lầm không và các câu có phản ánh trung thực ý muốn chuyển tải về khảo sát văn hóa an toàn người bệnh.
Kết quả thử nghiệm cho thấy 3/4 số nhân viên tham gia thử nghiệm hiểu bộ câu hỏi nghiên cứu, chỉ vài ý kiến từ nhân viên hành chính cho rằng cần làm rõ khái niệm sự cố. Như vậy sau khoảng sáu tuần việt hóa bộ câu hỏi, bản dịch bộ câu hỏi HSOPSC hoàn thành [1]. Sau thành công của nghiên cứu trên, Hội đồng quản lý chất lượng – Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh đã phổ biến và triển khai thực hiện trong toàn Sở.
Khảo sát thực trạng văn hoá an toàn người bệnh của bệnh viện là một hoạt động khởi đầu không thể thiếu trong cải tiến nâng cao chất lượng bệnh viện, giúp bệnh viện nắm bắt 7 những suy nghĩ, thái độ và hành vi của nhân viên bệnh viện liên quan đến an toàn người bệnh [7]. Để thống nhất cách khảo sát và giúp các bệnh viện có công cụ khảo sát thuận lợi, nhóm nghiên cứu của Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh do TS - BS Tăng Chí Thượng làm chủ nhiệm đề tài “Khảo sát văn hoá an toàn người bệnh tại các bệnh viện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” đã chọn bộ câu hỏi khảo sát của tổ chức AHRQ (Hoa Kỳ) để thực hiện nghiên cứu chuyển đổi sang phiên bản tiếng Việt [11]. Đây là bộ câu hỏi khảo sát hiện được các nước trên thế giới áp dụng nhiều nhất, tuy nhiên khi muốn dịch sang ngôn ngữ khác phải tuân thủ phương pháp nghiên cứu đảm bảo không sai lệch ý nghĩa.
Sau hơn 6 tháng triển khai thực hiện, nhóm nghiên cứu đã gửi kết quả đánh giá độ chính xác của phiên bản tiếng Việt đến tổ chức AHRQ và đã được chính thức công nhận. Như vậy, đây là phiên bản tiếng Việt chính thức của bộ câu hỏi khảo sát văn hoá an toàn người bệnh của AHRQ mà các bệnh viện trên cả nước có thể sử dụng [7]. Với bộ câu hỏi phiên bản tiếng Việt này, nhóm nghiên cứu văn hoá an toàn người bệnh của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh lần đầu tiên đã khảo sát được thực trạng văn hoá an toàn người bệnh của các bệnh viện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành “Khuyến cáo xây dựng văn hoá an toàn người bệnh tại các bệnh viện” (Công văn số 4233/SYT-NVY ngày 12/5/2016 của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh) để định hướng và thống nhất phương thức quản lý bệnh viện, tạo dựng văn hoá an toàn người bệnh trong toàn ngành y tế [7]. Do đó trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi khảo sát của tổ chức AHRQ (Hoa Kỳ) để phục vụ cho nghiên cứu đánh giá VHAT người bệnh tại Bệnh viện đa khoa Đống Đa.
Bộ công cụ và phương pháp nghiên cứu của AHRQ có những lợi ích không thể phủ nhận: (1) Miễn phí có sẵn. (2) Cuộc điều tra được thiết kế để khảo sát tất cả nhân viên bệnh viện, bao gồm cả khoa lâm sàng, cận lâm sàng và những khu vực khác. Nó có thể được sử dụng 8 để đánh giá các khoa/ phòng, cá nhân hoặc phòng ban, hoặc quản lý toàn bệnh viện. (3) Đáng tin cậy và hợp lệ: Quá trình phát triển điều tra cẩn thận và chặt chẽ dựa trên sự xem xét của các nghiên cứu và khảo sát hiện có của nền văn hóa ATNB các bệnh viện khác.
Quan trọng hơn, các mục khảo sát của bộ công cụ đã được chứng minh độ tin cậy và tính hợp lệ. (4) Toàn diện và cụ thể: Cuộc khảo sát bao gồm tất cả khu vực của tổ chức, cung cấp mức độ chi tiết giúp các bệnh viện xác định các lĩnh vực cụ thể của nơi thực hiện tốt và khu vực nào cần cải thiện ở cả hai cấp khoa và bệnh viện. (5) Dễ dàng sử dụng: Cuộc điều tra có một bộ công cụ đã được sử dụng tại nhiều nước trên thế giới 1. Thực trạng và nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh trên thế giới và ở Việt Nam 1.