Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Sự cố y khoa Theo WHO, sự cố y khoa không mong muốn “Là tổn thương làm cho người bệnh mất đi khả năng tạm thời hoặc vĩnh viễn, kéo dài ngày nằm viện hoặc chết. Nguyên nhân do công tác quản lý khám chữa bệnh hơn là do biến chứng bệnh của người bệnh.
Sự cố y khoa có thể phòng ngừa và không thể phòng ngừa, đã xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra. Theo Bộ Y tế Việt Nam (thông tư 43/2018/TT-BYT), một số khái niệm được định nghĩa như sau: 1- Sự cố y khoa: “là các tình huống không mong muốn xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan, chủ quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh, tác động sức khỏe, tính mạng của người bệnh”. 2- Tình huống có nguy cơ gây ra sự cố: “là tình huống đã xảy ra nhưng chưa gây hậu quả hoặc gần như xảy ra nhưng được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, chưa gây tổn thương đến sức khỏe của người bệnh” 3- Sức khỏe: “là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ là không mắc bệnh hoặc ốm yếu” 4- Chăm sóc sức khỏe: “là các dịch vụ mà cá nhân và cộng đồng nhận được để nâng cao, duy trì, giám sát hoặc phục hồi sức khỏe”(12). An toàn người bệnh Theo Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization - WHO), ATNB “là sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho người bệnh trong quá trình điều trị, chăm sóc” (11).
Theo Cơ quan chất lượng và nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ (AHQR), ATNB “là một chuyên ngành trong lĩnh vực y tế, áp dụng các phương pháp an toàn nhằm hướng đến mục đích xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ y tế đáng tin cậy. ATNB 5 còn là một thuộc tính của ngành y tế, nó tối thiểu hóa các sự cố và tối đa hóa sự phục hồi khi có sự cố” (13). Với cách hiểu này, ATNB được xem là một môn khoa học quản lý bao gồm các nguyên lý chính về ATNB (cách tiếp cận hệ thống, văn hóa không buộc tội cá nhân, tư duy yếu tố con người vào môi trường làm việc tạo nên một hệ thống khó mắc lỗi và đảm bảo duy trì VHATNB). Xét trên khía cạnh bệnh viện, ATNB trong bệnh viện, các chuyên gia đã tóm lược thành 7 yếu tố cấu thành như sau: 1- Lãnh đạo cần đặt ưu tiền hàng đầu trong mọi hoạt động quản lý, chuyên môn của bệnh viện là ATNB.
2- Các hoạt động trong bệnh viện được tổ chức làm việc theo đội, nhóm một cách hiệu quả. 3- Thực hành phải dựa vào minh chứng khoa học (phác đồ điều trị của BV phải dựa trên y học thực chứng) và thực hành lâm sàng tuân thủ phác đồ điều trị. 4- Mọi người được quyền bày tỏ ý kiến cá nhân, chỉ ra những nguy cơ và sai sót trong khoa mình, được tham gia sáng kiến cải tiến về ATNB. 5- Cách thức bệnh viện tổ chức học hỏi từ sai sót và cải tiến từ sai sót.
6- Đảm bảo công bằng, xem xét lỗi hệ thống trước khi khẳng định/kết luận lỗi của cá nhân. 7- Lấy NB làm trung tâm (14). VAI TRÒ CỦA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH Từ thời Hippocrates, phương châm “Primum non nocere” (trước tiên đừng làm hại bệnh nhân) đã nhắc nhở thầy thuốc cẩn trọng trong điều trị, chăm sóc NB, vì các quyết định và thủ thuật của thầy thuốc đều có thể gây hại cho NB (15). Tuy vậy, cho đến tận những năm 90 của thế kỉ XX, y học hiện đại mới bắt đầu quan tâm và phát hành nhiều thống kê mô tả tính chất trầm trọng do sai sót trong thực hành y khoa.
Khi đến một cơ sở y tế, người bệnh luôn kì vọng được chẩn đoán sớm bệnh, chính xác, chăm sóc và điều trị an toàn, có chất lượng với các dịch vụ mà họ nhận được. Sức khỏe và tính mạng của họ hoàn toàn giao phó ở thầy thuốc. Đảm bảo ATNB là trách 6 nhiệm thể hiện sự cam kết của mọi NVYT và các cơ sở y tế đối với NB. Giảm thiểu sự cố y khoa chính là đảm bảo ATNB (16).
MỘT SỐ MÔ HÌNH AN TOÀN NGƯỜI BỆNH Nhằm nâng cao ATNB trong mọi lĩnh vực y tế. Thực hiện theo mục tiêu chương trình của WHO nhằm giảm số ca nhiễm khuẩn thông qua các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát. Được sự hỗ trợ các tổ chức và chuyên gia chăm sóc sức khỏe xây dựng các mô hình ATNB dựa theo nhu cầu của từng quốc gia trên thế giới. Sau đây là một số mô hình nhằm hỗ trợ xây dựng giáo dục về ATNB trong chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam (WHO 2011) (11).
APSEF – Khung giáo dục ATNB Australia Hình 1.1 Mô hình giáo dục ATNB Australia (Nguồn WHO-2011) APSEF – Khung giáo dục ATNB Australia được xây dựng theo cách tiếp cận 4 giai đoạn: 1- Nghiên cứu tổng quan lý thuyết; 2- Xây dựng các lĩnh vực và chủ đề học; 3- Phân loại thành các phạm vi học; 4- Chuyển đổi sang định dạng theo hoạt động. Khung APSEF đã được đưa ra lấy ý kiến góp ý và đánh giá rộng rãi ở Australia và thế giới. Khung APSEF được xuất bản năm 2005 và là một mô hình đơn giản, linh 7 hoạt và dễ tiếp cận, mô tả kiến thức, kỹ năng và hành vi mà mọi cán bộ y tế cần có để đảm bảo chăm sóc người bệnh an toàn. Khung APSEF được chia thành bốn mức kiến thức, kỹ năng và hành vi tùy thuộc vào vị trí công tác và trách nhiệm lâm sàng của mỗi cá nhân trong dịch vụ hoặc tổ chức y tế.
Khung APSEF được thiết kế để hỗ trợ các tổ chức và chuyên gia chăm sóc sức khỏe xây dựng các chương trình giảng dạy và đào tạo (11). Mô hình giáo dục an toàn người bệnh Canada Hình 1.2 Mô hình giáo dục ATNB Canada (Nguồn WHO-2011) Hệ thống chăm sóc y tế của Canada được đánh giá là một trong những hệ thống y tế tốt nhất thế giới hiện nay, với mô hình chăm sóc đặc biệt đáp ứng nhu cầu của từng bệnh nhân riêng lẻ. Từng cá nhân sẽ tham gia vào việc đóng góp xây dựng VHATNB, xây dựng tinh thần làm việc nhóm cao giúp cho việc hỗ trợ phát hiện sai sót được tốt hơn. Điều này đòi hỏi bác sĩ của họ phải biết rõ lịch sử y khoa của họ, cho họ tham gia vào các quyết định và giải thích các vấn đề theo cách dễ hiểu tạo tương tác hiệu quả giữa người bệnh và NVYT từ đó hạn chế tối đa nguy cơ đe dọa đến ATNB.
Ngoài ra, yếu tố môi trường làm việc cũng rất được chú trọng, nhằm tạo điều kiện thích nghi tốt nhất cho nhân viên y tế, từ đó tạo tâm lý thoải mái trong công việc. Bộ Y tế Canada thường xuyên tổ chức các khóa tập huấn để nâng cao chuyên 8 môn của đội ngũ cán bộ y tế nhằm tạo khả năng ứng phó nhạy bén và kịp thời trong mọi tình huống (11). Mỗi mô hình được áp dụng tại các quốc gia khác nhau đều có sự phù hợp nhất định với chính sách y tế, đặc thù BN và điều kiện trang thiết bị kĩ thuật cũng như tình hình tài chính và sự đầu tư cho y tế. MỘT SỐ VĂN BẢN QUY ĐỊNH VỀ AN TOÀN NGƯỜI BỆNH TẠI VIỆT NAM Đảm bảo ATNB là mục tiêu sống còn của hệ thống y tế Việt Nam khi lấy người bệnh làm trung tâm.
Do vậy, Bộ Y tế đã ban hành, hướng dẫn và triển khai một số văn bản quy định về quản lý chất lượng và ATNB trong khám chữa bệnh. 1- Thông tư 19/2013/TT-BYT ngày 12/7/2013 về hướng dẫn quản lý chất lượng khám chữa bệnh trong các BV. Trong đó, tại điều 7 của thông tư đã quy định triển khai 7 biện pháp đảm bảo ATNB và NVYT. Chương III có hướng dẫn và các quy định tổ chức hệ thống quản lý chất lượng trong BV.
Đây là cơ sở để các BV thực hiện tổ chức triển khai các biện pháp đảm bảo ATNB và hoạt động quản lý chất lượng tại đơn vị mình. Tổ hoặc phòng quản lý chất lượng của bệnh viện được thành lập và thực hiện hoạt động theo nội dung hướng dẫn của thông tư này. 2- Tài liệu đào tạo liên tục về ATNB, ban hành kèm theo quyết định số 56/BYT-K2ĐT ngày 16/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Tài liệu này được Bộ Y tế ban hành dựa trên khuyến cáo và hướng dẫn cập nhật của Tổ chức Y tế Thế giới và triển khai thực hiện điều 7 của Thông tư số 19/2013/TT-BYT.
Mục đích của Tài liệu nhằm cung cấp các kiến thức, hiểu biết về tần suất các sai sót chuyên môn, sự cố y khoa, các nguyên nhân và các giải pháp để hạn chế các sai sót chuyên môn và sự cố y khoa tới mức thấp nhất có thể trong các cơ sở khám chữa bệnh. 3- Quyết định số 6858/QQD-BYT ngày 18/11/2016, ban hành kèm theo quyết định này là “Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam”, bao gồm 5 nhóm tiêu chí chính: Hướng đến người bệnh, cải tiến, nhân lực, chuyên môn kỹ thuật, tiêu chí sản phụ khoa. Sau 2 năm ra đời, từ phiên bản ban đầu 1.0 đến năm 2018, Bộ tiêu chí đã được nâng cấp phiên bản 2.0 sau khi được rút kinh nghiệm, sửa đổi, bổ sung về nội 9 dung và các tiêu chí. Nhiều tiêu chí được bổ sung thêm các tiểu mục mới và có yêu cầu khó, chặt chẽ hơn.
4- Quyết định số 7482/QQD-BYT ban hành ngày 18/12/2018 với 8 tiêu chí chất lượng đánh giá, bảo đảm phẫu thuật an toàn. Bộ tiêu chí được phối hợp trong nội dung kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện và để cơ quan quản lý giám sát vấn để bảo đảm an toàn phẫu thuật đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc. Tiêu chí này đòi hỏi các cơ sở có phòng phẫu thuật, thủ thuật phải tuân thủ quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị, chuyên môn, nhân sự thực hành, hoá chất và hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn. 5- Thông tư 43/2018/TT-BYT được Bộ Y tế ban hành ngày 26/12/2018, hướng dẫn phòng ngừa SCYK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Nội dung thông tư đã quy định rõ khái niệm, phân loại SCYK và quy trình vận hành hệ thống báo cáo SCYK. 6- Thông tư 49/2018/TT-BYT, hướng dẫn hoạt động xét nghiệm trong khám chữa bệnh ngày 28/12/2018. VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH VHATNB là khía cạnh cụ thể của nền văn hóa chung tại cơ sở y tế.