ĐẶT VẤN ĐỀ An toàn người bệnh (ATNB) là vấn đề phổ biến và là mối quan tâm của toàn xã hội. Mọi khâu trong mọi quy trình khám chữa bệnh đều tiềm ẩn những rủi ro đối với người bệnh (NB). Nếu xảy ra sai sót sự cố y khoa, người bệnh phải gánh chịu hậu quả ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc bị tàn tật tạm thời hoặc không thể hồi phục, thậm chí mất cả tính mạng chẳng khác gì một tai nạn đè lên tai nạn. Đảm bảo ATNB là mục tiêu để giảm đến mức thấp nhất các SCSS.
Nâng cao hiểu biết và hoạt động quản lý của cán bộ quản lý bệnh viện về lĩnh vực văn hóa ATNB quyết định sự ATNB trong bệnh viện. Xây dựng văn hóa an toàn người bệnh là hoạt động cần thiết nhằm thay đổi suy nghĩ, thái độ, hành vi của cán bộ y tế về an toàn người bệnh. Và đó cũng là một yêu cầu cấp thiết của các bệnh viện cả nước và cũng là yêu cầu của người dân đối với ngành y tế [1] Văn hóa ATNB của bệnh viện là sản phẩm có giá trị của mọi cá nhân và tập thể trong bệnh viện, bao gồm thái độ, khả năng nhận thức và hành vi đối với mỗi NVYT và ban lãnh đạo Bệnh viện. Một bệnh viện có văn hóa an toàn người bệnh, uy tín và chất lượng hiệu quả thì mọi liên kết thông tin đều được thực hiện hiệu quả dựa trên sự tin tưởng.
Và các NVYT trong bệnh viện đều biết được sự quan trọng và ý nghĩa của VHATNB và từ đó tin tưởng, mạnh dạn tiến hành các biện pháp phòng ngừa SCSS, đảm bảo ATNB[2]. Tổ chức Y tế Thế giới luôn tìm các hướng giải quyết để mang lại ATNB và các biện pháp ngăn chặn các SCSS có thể xảy ra cho bệnh nhân trong quá trình chăm sóc và điều trị, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp ATNB nhưng các cải cách này vẫn chưa đem lại kết quả khả quan. Vấn đề mấu chốt để điều hành một bệnh viện đảm bảo an toàn là thiết lập môi trườngvăn hóa ATNB cho các NVYT. Để NVYT chủ động thông báo sự cố y khoa để tìm ra nguyên nhân nhằm giảm thiểu sự cố y khoa trong điều trị và chăm sóc.
Vì lý do này, bệnh viện nên chuyển hình thức xử phạt nếu nhân viên vi phạm để xây dựng văn hóa an toàn cho NVYT. Lúc đó sai sót không được coi là lỗi của cá nhân mà là cơ hội để nhân viên thay đổi, sửa sai[3] Trên thế giới, Tổ chức Nghiên cứu Chất lượng và Chăm sóc Sức khỏe Hoa Kỳ (AHRQ) đã tiến hành một cuộc khảo sát và nghiên cứu về văn hóa ATNB của các NVYT. Các nghiên cứu trên đã vẽ lên bức tranh chung về hiện trạng văn 2 hóa an toàn người bệnh của NVYT và đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của NVYT, từ đó cải thiện VHATNB và thực hành an toàn người bệnh trong môi trường bệnh viện. Bệnh viện Quân y 211 là bệnh viện đa khoa hạng I, tọa lạc gần trung tâm thành phố Pleiku nên hàng ngày tiếp nhận một khối lượng lớn bộ đội và nhân dân trong vùng đến khám và điều trị nội trú.
Bệnh viện với 200 giường kế hoạch. 300 giường thực kê và 200 nhân viên y tế. Bệnh viện Quân y 211 hướng tới việc thiết lập văn hóa ATNB trong bệnh viện nhằm tăng cường mối quan hệ giữa bệnh nhân và NVYT nhằm nâng cao uy tín của bệnh viện. Nhưng cho đến nay ở bệnh viện vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về văn hóa ATNB của NVYT.
Câu hỏi được đặt ra: - Văn hóa ATNB được NVYT các khoa lâm sàng thực hiện như thế nào? - Những yếu tố nào đã ảnh hưởng đến văn ATNB của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng của bệnh viện? Vì vậy, với mong muốn trả lời các câu hỏi nghiên cứu trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng văn hóa an toàn ngƣời bệnh và một số yếu tố ảnh hƣởng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Quân y 211 năm 2021” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại các khoa lâm sàng tại bệnh viện Quân y 211 năm 2021.Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh tại các khoa lâm sàng tại bệnh viện Quân y 211 năm 2021. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm văn hóa, ATNB và văn hóa ATNB 1.
Khái niệm về văn hóa Theo GS Trần Ngọc Thêm, văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần, vật thể và phi vật thể đều do con người tạo ra, điều chỉnh, cải thiện và tổng hợp trong quá trình lao động thực tiễn với sự tương tác giữa môi trường tự nhiên và xã hội của chính mình. Văn hóa có 3 chức năng cơ bản: giao tiếp, điều chỉnh và giáo dục để trở thành con người hoàn thiện [9] 1. An toàn người bệnh An toàn người bệnh tại một bệnh viện là thuộc tính chức năng của ngành y tế, để đảm bảo an toàn cho NB. Bởi vì sự cố y khoa có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào trong quá trình thực hiện hoạt động chuyên môn, chăm sóc và điều trị người bệnh[1] Hàng năm, tại Hoa Kỳ có tới 98000 người tử vong liên quan tới sự cố y khoa không mong muốn.
Tại bệnh viện ở Utah các sự cố y khoa không mong muốn đã để lại hậu quả cho 2,4% người bệnh nhập viện, tăng chi phí 2262 Đô la Mỹ (USD)/người bệnh, và tăng thêm 1,9 ngày điều trị so với số liệu của nhóm chứng. Trong nghiên cứu của Harvard về sự cố không mong muốn do dùng thuốc, chi phí tăng 2595 USD/người bệnh và thời gian nằm viện kéo dài hơn 2,2 ngày/người bệnh. Ước tính chi phí cho các sự cố không mong muốn do dùng thuốc của một bệnh viện thực hành có qui mô 700 giường bệnh lên tới 5,6 triệu USD hàng năm[10] 1. Văn hóa an toàn người bệnh Văn hóa ATNB trong môi trường bệnh viện là bao gồm tất cả giá trị, niềm tin, nhận thức, thái độ và các quy tắc vì sự an toàn của tất cả NVYT và NB trong bệnh viện.
Tất cả nhân viên y tế trong bệnh viện cần phải được giáo dục, thực hiện văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện. Việc tổ chức các hoạt động để đảm bảo VHATNB gồm 5 nội dung cụ thể như sau: [11], [12], [13] - Một nền văn hóa mà mọi NVYT (bao gồm cả những người điều trị trực tiếp cho NB và người quản lý ) phải chịu trách nhiệm chính về sự đảm bảo an toàn của chính họ, của đồng nghiệp và của NB. - Văn hóa luôn ưu tiên và đặt an toàn lên trước mục tiêu về tài chính; 5 - Văn hóa luôn khích lệ, khuyến khích và khen thưởng tích cực phát hiện và giải quyết các vấn đề về an toàn; - Văn hóa phát triển nguồn lực và trách nhiệm giải trình phù hợp để duy trì hiệu quả các bộ phận, hệ thống đảm bảo an toàn. Văn hóa an toàn cho NB trong các khoa lâm sàng tại bệnh viện là bao gồm người bệnh tại khoa nội trú và người bệnh ngoại trú.
Đối với một bệnh viện có văn hóa ATNB tốt, mỗi người trong tổ chức phải thể hiện vai trò tích cực trong phòng ngừa SCSS và vai trò chủ động của NVYT luôn được sự ủng hộ và khuyến khích của Ban Giám đốc bệnh viện[13], [12], [7], [11]. Văn hóa ATNB trong bệnh viện giữ vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng ATNB. Báo cáo của hiệp hội sức khỏe về VHATNB được đo lường và kiểm soát tại Anh năm 2013 thì VHATNB có ảnh hưởng rất lớn đến người bệnh cũng như nhân viên y tế. Thực tế, đối với người bệnh, văn hóa ATNB giúp giảm tỷ lệ sai sót trong quá trình sử dụng thuốc, thời gian NB nằm viện và các biến chứng đến từ phẫu thuật.
Còn đối với nhân viên y tế, sẽ tích cực báo cáo sự cố y khoa, giảm rủi ro cho điều dưỡng và giảm tỷ lệ NVYT xin nghỉ việc[7], [11], [12] 1. Thang đo nghiên cứu VHATNB trong bệnh viện Mục đích của các nghiên cứu về VHATNB là để cung cấp chỉ số rõ ràng về mức độ hoạt động ATNB của mỗi bệnh viện. Và cũng là cơ sở, căn cứ để theo dõi, can thiệp, nhận xét và đưa ra các giải pháp cần thiết để nâng cao chất lượng bệnh viện[7], [2]. Đến nay, nhiều bộ công cụ khảo sát VHATNB đã được tạo ra và sử dụng trên khắp thế giới.
Nhưng Bộ Công cụ khảo sát văn hóa ATNB của cơ quan nghiên cứu chất lượng Y tế Hoa Kỳ (AHRQ) đang được phát triển và sử dụng rộng rãi. Bộ công cụ này được thiết kế giành cho các bệnh viện có tính khả thi rất cao, có thể lấy kết quả đánh giá của bộ công cụ này để so sánh với kết quả đánh giá của các bệnh viện khác trên thế giới. Đặc biệt hơn là bộ công cụ này còn đánh giá tất cả các hoạt động văn hóa ATNB trong bệnh viện, không giống như các bộ công cụ khác chỉ khảo sát thái độ ATNB. Bảng câu hỏi HSOPSC của AHRQ bao gồm tổng cộng 42 câu hỏi và đánh giá 12 nhóm yếu tố.
Với thang điểm Likert 5 điểm được tính từ 1 điểm đến 5 điểm. Đối với 6 những câu hỏi tích cực, câu trả lời là rất đồng ý có giá trị 5 điểm và câu trả lời rất không đồng ý có giá trị 1 điểm. Ngược lại, một câu hỏi phủ định (đảo ngược) với câu trả lời rất đồng ý có giá trị 1 điểm và câu trả lời rất không đồng ý có giá trị 5 điểm. Mỗi câu hỏi được đưa ra trên thang điểm Likert 5 điểm.
Nếu kết quả đánh giá từ 4 điểm trở lên (> 75%) thì được quy ước là tích cực cao (Phụ lục 1). Bộ công cụ cũng được dịch thành 16 ngôn ngữ và khảo sát, nghiên cứu ở nhiều bệnh viện khác nhau trên thế giới. Bản khảo sát của HSOPSC đƣợc việt hóa tại Việt Nam Ở Việt Nam bộ câu hỏi này cũng được khảo sát ở một số bệnh viện và được sử dụng trong các nghiên cứu liên quan đến thực trạng văn hóa ATNB của NVYT, kết quả thu thập được đề xuất các giải pháp để thay đổi phương thức hoạt động ở một số bệnh viện rất có giá trị [7], [12], [11]. Đây là bộ công cụ khảo sát được sử dụng rộng rãi với mục đích khảo sát VHATNB không chỉ ở cấp bệnh viện mà ở cả khuông khổ nhỏ hơn như từng khoa trong bệnh viện.