Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam sở hữu ba phần tư diện tích là đồi núi với nguồn tài nguyên thực vật phong phú, là địa bàn cư trú của 54 dân tộc, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm hơn một phần ba dân số cả nước. Trải qua lịch sử sinh tồn lâu dài, các cộng đồng dân tộc đã tích lũy vốn tri thức dân gian phong phú về việc sử dụng các loài cây cỏ tự nhiên tại địa bàn để làm thuốc chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, dưới áp lực của nền kinh tế thị trường, đô thị hóa và tình trạng khai thác bừa bãi, nhiều nguồn tài nguyên cây thuốc quý đang đối mặt với nguy cơ cạn kiệt; đồng thời, vốn tri thức bản địa cũng có xu cơ bị mai một khi thế hệ trẻ ít tiếp thu các kinh nghiệm truyền thống.

Huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng có diện tích tự nhiên 690,79 km², trong đó tài nguyên rừng và đất rừng chiếm 90% diện tích đất canh tác toàn huyện, gồm 16 đơn vị hành chính với các cộng đồng Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh, Hoa cùng sinh sống. Xã Vân Trình là một xã thuộc huyện Thạch An tập trung nhiều cộng đồng có kinh nghiệm sử dụng thực vật làm thuốc. Trước thời điểm nghiên cứu, tại xã Vân Trình chưa có công trình khoa học nào điều tra, thống kê có hệ thống về vốn tri thức bản địa này. Khóa luận được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học cho công tác bảo tồn, phát triển nguồn gen cây thuốc và giữ gìn các bài thuốc dân gian của đồng bào địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong các cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Vân Trình, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
  2. Xác định những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam, hiện có ở khu vực nghiên cứu.
  3. Xác định vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật được cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Vân Trình sử dụng làm thuốc chữa bệnh và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại địa bàn.
  • Phạm vi không gian: Xã Vân Trình, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng (tổng diện tích tự nhiên 3.238,51 ha, gồm 14 xóm).
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện điều tra thực địa từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2020.
  • Phạm vi cộng đồng: Tập trung vào tri thức sử dụng cây thuốc của 3 cộng đồng dân tộc thiểu số chính tại địa bàn là Nùng, Tày và Dao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và tài liệu giám định, đánh giá:

  • Hệ thống phân loại và phương pháp đánh giá tính đa dạng thực vật học: Áp dụng phương pháp phân loại và đánh giá tính đa dạng tài nguyên thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 2005) để phân tích các bậc taxon (ngành, lớp, họ, chi, loài), dạng sống, môi trường sống, bộ phận sử dụng và nhóm bệnh điều trị.
  • Tài liệu giám định tên khoa học: Sử dụng các tài liệu chuyên khảo thực vật học Việt Nam gồm Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 2000), Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2012), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005) và Danh lục các loài thực vật Việt Nam (Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường – Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 2006).
  • Quy chuẩn đánh giá mức độ nguy cấp và bảo tồn: Đối chiếu tình trạng bảo tồn theo Sách đỏ Việt Nam - Phần II Thực vật (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007), Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam trong Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam (Nguyễn Tập, 2006/2007).

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp kế thừa: Tổng hợp các báo cáo điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội lưu trữ tại địa phương và tài liệu nghiên cứu dân tộc thực vật học đã công bố.
  • Phương pháp điều tra cộng đồng: Phỏng vấn trực tiếp các ông lang, bà mế và người dân có kinh nghiệm sử dụng bài thuốc dân gian thông qua mẫu phiếu điều tra chuẩn hóa của Viện Dược liệu (1993). Phiếu điều tra gồm 11 trường thông tin: thời gian, địa điểm, người cung cấp, tên phổ thông, tên địa phương, số hiệu ảnh/mẫu, dạng sống, môi trường sống, bộ phận sử dụng, công dụng và cách dùng.
  • Phương pháp thu thập và xử lý mẫu thực địa: Thu hái từ 3 đến 10 mẫu/loài đối với các loài cần giám định lại tên; gắn nhãn tiêu bản (etyket), ép bằng cặp gỗ ép mẫu, sấy khô và bảo quản theo quy chuẩn nghiên cứu thực vật.
  • Phương pháp giám định phân loại: Tiến hành 2 bước: bước 1 định danh sơ bộ tại thực địa và ghi nhận ký hiệu mẫu (sp1, sp2...); bước 2 phân tích hình thái so sánh, tra cứu khóa phân loại và thẩm định cùng chuyên gia thực vật học.
  • Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm hoạt tính kháng khuẩn:
    • Điều chế cao chiết: Mẫu thực vật sau khi sấy khô ở 90°C được nghiền mịn; chiết ngấm nóng bằng dung môi methanol theo tỷ lệ 10 g bột/100 ml dung môi, lắc 200 vòng/phút trong 24 giờ; lọc dịch chiết và cô đặc bằng máy cô quay chân không để thu cao chiết thô, bảo quản ở 4°C.
    • Thử nghiệm kháng khuẩn: Sử dụng phương pháp khuếch tán giếng thạch (agar well diffusion) trên môi trường LB đối với 2 chủng vi khuẩn kiểm định gồm 1 chủng Gram dương (Staphylococcus aureus) và 1 chủng Gram âm (Escherichia coli) được cung cấp bởi phòng thí nghiệm Vi sinh – Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên. Các giếng thạch có đường kính 6 mm được nhỏ 100 μl dung dịch cao chiết nồng độ 100 mg/ml; đối chứng dương sử dụng kháng sinh Kanamycin và Akamicin (5 mg/ml). Hoạt tính kháng khuẩn được đánh giá thông qua đường kính vòng kháng khuẩn BK = D - d (mm), trong đó D là đường kính vòng vô khuẩn và d là đường kính giếng thạch.

Nguồn dữ liệu:

  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập từ 14 xóm thuộc xã Vân Trình thông qua điều tra phỏng vấn các thầy thuốc bản địa thuộc 3 dân tộc Nùng, Tày, Dao; số liệu thực nghiệm in vitro tại phòng thí nghiệm.
  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê đất đai năm 2019 của Ủy ban nhân dân xã Vân Trình và các công trình nghiên cứu dân tộc thực vật học trên địa bàn miền núi phía Bắc.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu xác lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự mai một nguồn dược liệu và tri thức bản địa tại huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng; công bố 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể; xác định ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu dân tộc thực vật học và ý nghĩa thực tiễn trong việc cung cấp cơ sở cho các chương trình bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng thuật các công trình nghiên cứu dân tộc thực vật học trên thế giới (Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Úc) và tại Việt Nam từ giai đoạn cổ điển (Vũ Văn Chuyên, Đỗ Huy Bích, Viện Dược liệu, Võ Văn Chi) đến các công bố gần đây tại Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Cao Bằng. Đồng thời, chương trình bày chi tiết đặc điểm địa bàn nghiên cứu: xã Vân Trình có diện tích tự nhiên 3.238,51 ha (đất nông nghiệp chiếm 2.913,38 ha); địa hình karst chia cắt phức tạp xen kẽ thung lũng; khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 23,4°C, lượng mưa từ 1.400 đến 1.500 mm/năm; dân số 2.515 người thuộc 759 hộ, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 95%, cơ cấu dân tộc gồm người Nùng (49,66%), Tày (46,35%), Dao (3%) và Kinh (0,76%).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng khảo sát là các loài cây thuốc và kinh nghiệm trị bệnh của 3 cộng đồng Nùng, Tày, Dao tại xã Vân Trình; xác định các nội dung về đa dạng taxon, dạng sống, sinh cảnh, loài quý hiếm, tri thức bộ phận dùng, nhóm bệnh điều trị, sự giao thoa văn hóa và khảo sát hoạt tính kháng khuẩn. Mô tả toàn bộ các bước kỹ thuật từ điều tra xã hội học, thu mẫu tiêu bản, quy trình chiết xuất methanol ngâm nóng và kỹ thuật khuếch tán giếng thạch xác định vòng kháng khuẩn.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương kết quả cung cấp toàn bộ dữ liệu định lượng thu được từ đợt điều tra thực địa và thực nghiệm vi sinh:

  • Đa dạng taxon: Ghi nhận 82 loài cây thuốc thuộc 80 chi, 63 họ, toàn bộ đều thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) chiếm ưu thế với 73 loài (89,02%), 72 chi (90,00%), 56 họ (88,89%). Lớp Một lá mầm (Liliopsida) ghi nhận 9 loài (10,98%), 8 chi (10,00%), 7 họ (11,11%). Có 47 họ chỉ chứa 1 loài (chiếm 74,60% tổng số họ); 13 họ chứa 2 loài (20,63%); 3 họ đa dạng nhất chứa 3 loài (4,76%) gồm họ Cam (Rutaceae - 2 chi, 3 loài), họ Tiết dê (Menispermaceae - 3 chi, 3 loài) và họ Ráy (Araceae - 2 chi, 3 loài).
  • Đa dạng dạng sống: Thân thảo chiếm tỷ lệ cao nhất với 33 loài (40,24%), tiếp theo là Dây leo với 17 loài (20,73%), Gỗ nhỏ với 12 loài (14,63%), Cây bụi với 10 loài (12,20%), Gỗ lớn với 6 loài (7,32%) và thấp nhất là Gỗ trung bình với 4 loài (4,88%).
  • Đa dạng nơi sống: Phân bố nhiều nhất tại sinh cảnh làng xóm, làng bản, vườn với 44 loài (53,66%); sinh cảnh rừng (tự nhiên, tái sinh, rừng trồng) có 32 loài (39,02%); đồi cây bụi, đồi trọc, trảng cỏ có 22 loài (26,83%); ven suối thấp nhất với 2 loài (2,44%).
  • Cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn: Phát hiện 8 loài thuộc diện quý hiếm cấp quốc gia (chiếm 9,76% tổng số loài điều tra). Trong đó: 6 loài thuộc Nghị định 06/2019/NĐ-CP (1 loài nhóm IA là Lan kim tuyến; 5 loài nhóm IIA gồm Bình vôi, Hoàng tinh hoa trắng, Bảy lá một hoa, Hoàng đằng, Cốt toái bổ); 4 loài trong Sách đỏ Việt Nam 2007 (3 loài cấp EN gồm Lan kim tuyến, Giảo cổ lam, Cốt toái bổ; 1 loài cấp VU là Hà thủ ô đỏ); 4 loài trong Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam 2006 (3 loài cấp EN gồm Bảy lá một hoa, Hà thủ ô đỏ, Cốt toái bổ; 1 loài cấp VU là Giảo cổ lam). Riêng loài Cốt toái bổ (Drynaria fortunei) có tên trong cả 3 văn bản bảo tồn.
  • Tri thức về bộ phận sử dụng: Ghi nhận 8 bộ phận làm thuốc. Dân tộc Nùng sử dụng nhiều nhất bộ phận cả cây (25/57 loài - 43,86%), lá (11/57 loài - 19,30%) và rễ (11/57 loài - 19,30%). Dân tộc Tày dùng nhiều nhất bộ phận cả cây (9/23 loài - 39,13%), lá (5/23 loài - 21,74%) và củ (3/23 loài - 13,04%). Dân tộc Dao tập trung cao vào bộ phận cả cây (10/13 loài - 76,92%) và rễ (2/13 loài - 15,38%).
  • Tri thức về nhóm bệnh chữa trị: Thống kê được 14 nhóm bệnh. Người Nùng sử dụng cây thuốc điều trị 13 nhóm bệnh, tập trung cao ở nhóm thuốc bổ (10/57 loài - 17,54%), nhóm bệnh tiêu hóa, xương khớp và thần kinh (mỗi nhóm 8/57 loài - 14,04%). Người Tày điều trị 8 nhóm bệnh, tập trung vào bệnh tiêu hóa (6/23 loài - 26,09%) và xương khớp (5/23 loài - 21,74%). Người Dao điều trị 9 nhóm bệnh, phân bố đều ở các nhóm thần kinh, động vật cắn, tiết niệu, phụ nữ/sinh sản và cầm máu/nhiễm trùng vết thương (mỗi nhóm 2/13 loài - 15,38%).
  • Giao thoa tri thức: Xác định được 2 loài cây thuốc được cả 3 dân tộc cùng sử dụng gồm Bảy lá một hoa (Paris chinensis) và Núc nác (Oroxylum indicum), nhưng mục đích chữa trị có sự phân hóa theo từng tộc người.
  • Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn: Thử nghiệm cao chiết methanol của một số loài dược liệu tại địa phương (như Huyết đằng, Bòng bong) ghi nhận khả năng tạo vòng ức chế sinh trưởng đối với vi khuẩn Staphylococcus aureus và Escherichia coli.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các chỉ số đa dạng thực vật và vốn tri thức bản địa ghi nhận tại địa bàn; đồng thời đưa ra các đề xuất về quy hoạch bảo tồn nguồn gen, kỹ thuật nhân giống các loài bị khai thác toàn phần (rễ, thân, cả cây) và giải pháp lưu giữ tri thức truyền thống trong cộng đồng.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu định lượng về tài nguyên cây thuốc tại xã Vân Trình thông qua các bảng thống kê tổng hợp:

Bậc phân loại / Lớp Số họ Tỷ lệ (%) Số chi Tỷ lệ (%) Số loài Tỷ lệ (%)
Lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) 56 88,89 72 90,00 73 89,02
Lớp Một lá mầm (Liliopsida) 7 11,11 8 10,00 9 10,98
Tổng cộng 63 100,00 80 100,00 82 100,00

Về dạng sống, cơ cấu 82 loài phân bố như sau: Thân thảo có 33 loài (40,24%); Dây leo có 17 loài (20,73%); Gỗ nhỏ có 12 loài (14,63%); Bụi có 10 loài (12,20%); Gỗ lớn có 6 loài (7,32%); Gỗ trung bình có 4 loài (4,88%). Về môi trường sống: Làng bản, vườn có 44 loài (53,66%); Rừng có 32 loài (39,02%); Đồi cây bụi, trảng cỏ có 22 loài (26,83%); Ven suối có 2 loài (2,44%).

Nghiên cứu xác định danh lục 8 loài cây thuốc quý hiếm thuộc diện ưu tiên bảo tồn tại khu vực nghiên cứu:

STT Tên phổ thông Tên khoa học Họ thực vật SĐVN 2007 NĐ 06/2019 DLĐCTVN 2006
1 Lan kim tuyến Anoectochilus setaceus Blume Orchidaceae EN IA -
2 Bình vôi Stephania rotunda Lour. Menispermaceae - IIA -
3 Hoàng tinh hoa trắng Disporopsis longifolia Craib Convallariaceae - IIA -
4 Bảy lá một hoa Paris chinensis Franch. Trilliaceae - IIA EN
5 Hà thủ ô đỏ Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson Polygonaceae VU - EN
6 Giảo cổ lam Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino Cucurbitaceae EN - VU
7 Hoàng đằng Fibraurea tinctoria Lour. Menispermaceae - IIA -
8 Cốt toái bổ Drynaria fortunei (Kuntze ex Mett.) J.Sm. Polypodiaceae EN IIA EN

Kinh nghiệm khai thác bộ phận làm thuốc giữa các dân tộc có sự khác biệt rõ nét:

Bộ phận sử dụng Dân tộc Nùng (n=57 loài) Tỷ lệ (%) Dân tộc Tày (n=23 loài) Tỷ lệ (%) Dân tộc Dao (n=13 loài) Tỷ lệ (%)
Cả cây 25 43,86 9 39,13 10 76,92
Lá 11 19,30 5 21,74 0 0,00
Rễ 11 19,30 2 8,70 2 15,38
Vỏ 7 12,28 2 8,70 1 7,69
Củ 6 10,53 3 13,04 0 0,00
Thân 2 3,51 0 0,00 0 0,00
Hoa 2 3,51 1 4,35 0 0,00
Quả 0 0,00 1 4,35 0 0,00

Đối với các loài cây thuốc được cả 3 dân tộc cùng sử dụng, nghiên cứu ghi nhận 2 loài:

  • Bảy lá một hoa (Paris chinensis Franch.): Người Nùng dùng chữa bệnh tim; người Tày dùng trị gãy xương, hen; người Dao dùng trị rắn cắn.
  • Núc nác (Oroxylum indicum (L.) Kurz): Người Nùng dùng làm thuốc kháng sinh, trị bại liệt; người Tày dùng làm kháng sinh đường ruột; người Dao dùng chữa bệnh về tim, gan, máu.

Các giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Cần triển khai các biện pháp bảo tồn tại chỗ kết hợp với gây trồng chuyển chỗ, đặc biệt chú trọng các loài bị khai thác toàn cây, thân, rễ hoặc củ nhằm ngăn ngừa suy kiệt quần thể tự nhiên.
  • Ưu tiên nhân giống và bảo tồn nghiêm ngặt đối với 8 loài thuộc diện nguy cấp đã ghi nhận, đặc biệt là loài Lan kim tuyến thuộc nhóm IA và Cốt toái bổ có mặt trong cả 3 danh mục bảo tồn.
  • Tổ chức ghi chép, tài liệu hóa hệ thống bài thuốc dân gian nhằm bảo lưu tri thức bản địa trước nguy cơ đứt gãy truyền thừa giữa các thế hệ.

Đóng góp của khóa luận:

  • Đây là công trình đầu tiên điều tra và công bố danh mục toàn diện về tài nguyên cây thuốc và tri thức bản địa tại xã Vân Trình, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
  • Cung cấp dẫn liệu thực tế về 82 loài cây thuốc thuộc 63 họ, xác lập cơ cấu sử dụng theo từng dân tộc bản địa (Nùng, Tày, Dao).
  • Bước đầu cung cấp dữ liệu kiểm chứng thực nghiệm về hoạt tính kháng khuẩn in vitro của một số loài dược liệu tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thời gian khảo sát thực địa ngắn (chỉ kéo dài 5 tháng, từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2020), chưa bao quát được toàn bộ chu kỳ sinh trưởng theo mùa của các loài thực vật trong năm, dẫn đến khả năng bỏ sót các loài chỉ xuất hiện vào mùa thu hoặc đông.
  • Đa dạng bậc họ của nguồn cây thuốc tại khu vực nghiên cứu còn tương đối thấp (không có họ nào nằm trong top 10 họ giàu loài nhất của hệ thực vật Việt Nam), tỷ lệ loài ghi nhận trong từng họ còn rất nhỏ so với tổng số loài hiện có tại Việt Nam (họ Cam chiếm 2,34%, họ Ráy chiếm 1,71%, họ Tiết dê chiếm 5,77%).
  • Thử nghiệm sinh học mới dừng lại ở việc đánh giá sơ bộ hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết toàn phần trên 2 chủng vi khuẩn cơ bản, chưa phân lập và xác định cấu trúc hóa học của các hoạt chất tinh khiết.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi và thời gian điều tra thực địa qua các mùa khác nhau trong năm để hoàn thiện danh lục cây thuốc tại xã Vân Trình.
  • Tiến hành các nghiên cứu sâu hơn về hóa thực vật, sàng lọc độc tính và hoạt tính dược lý chuyên biệt trên các loài cây thuốc tiềm năng.
  • Xây dựng mô hình trồng thử nghiệm và bảo tồn chuyển chỗ đối với các loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao như Lan kim tuyến, Bảy lá một hoa, Giảo cổ lam.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Lâm nghiệp, Sinh thái học, Bảo tồn Đa dạng Sinh học, Thực vật học, Dược học cổ truyền và Nhân học văn hóa/Dân tộc học.
  • Cán bộ nghiên cứu tại các viện dược liệu, trung tâm bảo tồn tài nguyên sinh vật và các nhà nghiên cứu thực hiện đề tài tương tự về dân tộc thực vật học tại vùng núi Đông Bắc.
  • Cán bộ quản lý lâm nghiệp, kiểm lâm và chính quyền địa phương huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng trong việc xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và bảo tồn dược liệu dưới tán rừng.

Các phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao:

  • Biểu mẫu phiếu điều tra cây thuốc và bài thuốc dân gian (mục 3.2.2) có thể chuẩn hóa áp dụng cho các đề tài điều tra dân tộc thực vật học khác.
  • Danh lục 8 loài cây thuốc quý hiếm kèm phân hạng bảo tồn chi tiết đối chiếu theo ba văn bản pháp lý và khoa học hiện hành.
  • Quy trình thực nghiệm chiết xuất mẫu bằng dung môi methanol và phương pháp đo vòng kháng khuẩn trên giếng thạch vi sinh (mục 3.2.6).

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận đã ghi nhận được bao nhiêu loài cây thuốc tại xã Vân Trình và cơ cấu phân loại taxon ra sao?
Nghiên cứu đã ghi nhận được 82 loài cây thuốc thuộc 80 chi và 63 họ thực vật. Toàn bộ các loài này đều thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), trong đó lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) chiếm ưu thế tuyệt đối với 73 loài (89,02%), 72 chi (90,00%) và 56 họ (88,89%); lớp Một lá mầm (Liliopsida) chỉ có 9 loài (10,98%), 8 chi (10,00%) và 7 họ (11,11%).

Những loài cây thuốc nào tại khu vực nghiên cứu thuộc diện quý hiếm cần ưu tiên bảo tồn?
Có 8 loài được xác định thuộc diện cần bảo tồn cấp quốc gia (chiếm 9,76% tổng số loài điều tra), bao gồm: Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus - SĐVN: EN, NĐ 06: IA), Bình vôi (Stephania rotunda - NĐ 06: IIA), Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis longifolia - NĐ 06: IIA), Bảy lá một hoa (Paris chinensis - NĐ 06: IIA, DLĐC: EN), Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora - SĐVN: VU, DLĐC: EN), Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum - SĐVN: EN, DLĐC: VU), Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria - NĐ 06: IIA) và Cốt toái bổ (Drynaria fortunei - SĐVN: EN, NĐ 06: IIA, DLĐC: EN). Trong đó, loài Cốt toái bổ đồng thời xuất hiện trong cả ba danh mục bảo tồn.

Ba họ thực vật nào có số lượng loài làm thuốc nhiều nhất tại địa bàn nghiên cứu?
Ba họ thực vật giàu loài nhất tại xã Vân Trình đều có 3 loài (chiếm 3,66% số loài mỗi họ), bao gồm: họ Cam (Rutaceae - 2 chi, 3 loài), họ Tiết dê (Menispermaceae - 3 chi, 3 loài) và họ Ráy (Araceae - 2 chi, 3 loài). Không có họ nào trong số này thuộc nhóm 10 họ thực vật đa dạng nhất của hệ thực vật Việt Nam.

Hai loài cây thuốc nào được cả ba dân tộc Tày, Nùng và Dao cùng sử dụng và công dụng chữa trị của từng dân tộc khác nhau như thế nào?
Hai loài được cả ba dân tộc cùng sử dụng là Bảy lá một hoa (Paris chinensis) và Núc nác (Oroxylum indicum). Đối với Bảy lá một hoa, người Nùng dùng chữa bệnh tim, người Tày dùng trị gãy xương và hen suyễn, trong khi người Dao dùng trị rắn cắn. Đối với Núc nác, người Nùng dùng trị bại liệt và làm thuốc kháng sinh, người Tày dùng làm kháng sinh đường ruột, còn người Dao dùng điều trị các bệnh về tim, gan và máu.

Thực nghiệm vi sinh trong đề tài được tiến hành trên những chủng vi khuẩn nào và sử dụng phương pháp gì?
Nghiên cứu sử dụng phương pháp khuếch tán giếng thạch (agar well diffusion) trên môi trường LB để đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết toàn thân (dung môi methanol, nồng độ 100 mg/ml) đối với 2 chủng vi khuẩn kiểm định gồm Staphylococcus aureus (Gram dương) và Escherichia coli (Gram âm), sử dụng đối chứng dương là kháng sinh Kanamycin và Akamicin ở nồng độ 5 mg/ml.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lộc Tiến Dũng đã hệ thống hóa toàn diện nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Vân Trình, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng với 82 loài thực vật thuộc 80 chi và 63 họ, trong đó xác định được 8 loài quý hiếm thuộc diện ưu tiên bảo tồn cấp quốc gia. Công trình phản ánh chi tiết sự phân hóa và giao thoa trong kinh nghiệm sử dụng cây thuốc giữa ba dân tộc Nùng, Tày, Dao qua 8 bộ phận làm thuốc và 14 nhóm bệnh điều trị. Kết quả nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát dân tộc thực vật học và thử nghiệm kháng khuẩn in vitro đã cung cấp cơ sở khoa học xác thực cho các định hướng bảo tồn nguồn gen dược liệu và duy trì tri thức bản địa tại địa phương.