Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niêm chung về Y học cổ truyền Thuật ngữ "YHCT” đề cập đến những cách bảo vệ và phục hồi sức khoẻ trước khi có YHHĐ, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [30]. Để thống nhất khái niệm về YHCT, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra định nghĩa như sau: "Y học cổ truyền hay còn gọi là Y học dân tộc (Traditional medicine) là toàn bộ kiến thức, kỹ năng và thực hành dựa trên lý luận, lòng tin và kinh nghiệm vốn có của những nền văn hoá khác nhau, dù đã được giải thích hay chưa, nhưng được sử dụng để duy trì sức khoẻ, cũng như để phòng bệnh, chẩn đoán, cải thiện hoặc điều trị tình trạng đau ốm về thể xác hoặc tinh thần" [43]. Hầu hết các hệ thống của mỗi nền YHCT trên thế giới đều gắn liền với đặc điểm văn hóa và lối sống của dân tộc đó.
Mặc dù vậy trong nhiều hệ thống YHCT khác nhau vẫn có những đặc tính chung phổ biến, đó là: - Niềm tin và hệ thống lý luận cho rằng con người là một thể thống nhất của thể xác và tâm hồn, tinh thần và cảm xúc. Sức khỏe là sự cân bằng của nhiều mặt đối lập nhau trong cơ thể cũng như là sự cân bằng giữa cơ thể con người và môi trường sống. Bệnh tật xuất hiện nếu như mất đi sự cân bằng đó. - Cách tiếp cận trong chẩn đoán và điều trị của YHCT là một cách tiếp cận tống thế, không đơn giản là chỉ xác định cơ quan nào của cơ thể bị rối loạn, tổn thương.
Cũng như khi đưa ra các phương pháp điều trị, các thầy thuốc YHCT thường kèm theo lời khuyên về lối sống và hành vi sức khỏe. - Trong điều trị, YHCT dựa trên những nhu cầu khác nhau, sự khác biệt của từng người bệnh cụ thể. Mỗi người bệnh khác nhau sẽ nhận được cách điều trị khác nhau cho dù họ mắc cùng một chứng bệnh [44], WHO cũng đã khẳng định: "Không cần chứng minh lợi ích của YHCT, mà cần phải đề cao và khai thác rộng rãi hơn nữa những khả năng của nó có lợi cho 6 toàn thể nhân loại, phải đánh giá và công nhận theo đúng giá trị của nó và làm nó hữu hiệu hơn. Đó là hệ thống mà dân chúng từ trước đến nay đã coi như của mình và chấp nhận không hạn chế.
Hơn thế dù ở đâu nó cũng có lợi nhiều hơn những hệ thống từ ngoài, vì nó là một bộ phận không thể tách rời của nền văn hoá nhân dân" [34]. Y học cố truyền ở một số nước trên thế giới Nhận rõ vai trò quan trọng và lợi ích của việc sử dụng YHCT trong CSSK, nhiều quốc gia trên thế giới đã đặt ra vấn đề kết hợp YHHĐ với YHCT trong CSSK ban đầu. Không chỉ các nước châu Á và các nước đang phát triển mà ngay cả các nước phát triển YHCT cũng được sử dụng rộng rãi [42], Trong tuyên ngôn Alma - Ata “Sức khỏe cho mọi người” năm 1978, WHO đã kêu gọi các quốc gia chấp nhận YHCT vào trong hệ thống CSSK và công nhận vị trí của thầy thuốc YHCT trong hệ thống y tế. Ket quả là hơn 30 năm qua, việc sử dụng YHCT trong CSSK ban đầu tại tuyến y tế cơ sở đã tăng lên một cách đáng kể ở những nước đang phát triển cũng như việc sử dụng những thuốc bổ trợ và thay thế ở những nước phát triển trên thế giới [48], [49].
Bởi những lý do đó, ngay trong năm đầu của thế kỷ 21, WHO đã vạch ra chiến lược về YHCT trong giai đoạn 2002 - 2005 để kết hợp YHCT vào trong hệ thống y tế quốc gia. Trong 3 năm nghiên cứu, WHO đã đưa ra khuyến cáo chung cho các nước trên thế giới về việc điều trị kết hợp YHCT với YHHĐ trong CSSK cộng đồng với các mục tiêu: - Kết hợp YHCT với YHHĐ để phát triển và hoàn thiện các chương trình, chính sách y tế quốc gia. - Đảm bảo sử dụng thuốc YHCT, thuốc thay thế và bổ trợ an toàn, hiệu quả và phù hợp. - Tố chức nghiên cứu, đào tạo, thu thập những kinh nghiệm, sử dụng các biện pháp điều trị bằng YHCT, duy trì và bảo tồn nền YHCT của các quốc gia.
Cải thiện 7 các phương pháp điều trị bang YHCT. Làm cho YHCT được phổ cập, nhất là những người nghèo [45]. Đây là những tác động tích cực từ những nhà quản lý, người cung cấp dịch vụ, còn đối tượng sử dụng là người dân đã dùng YHCT như là một phương pháp hiệu quả trong CSSK. Một trong các quốc gia tiêu biểu có hệ thống YHCT phát triển cao phải kể tới là Trung Quốc, quốc gia có một nền YHCT lâu đời và có ảnh hưởng sâu sắc tới nền YHCT của nhiều quốc gia khác như: Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam.Nền YHCT Trung Quốc là nền YHCT dựa trên nền tảng lý luận sâu sắc, kết họp nhuần nhuyễn với triết học phương Đông, với học thuyết Âm dương, Ngũ hành, với những tác phẩm lý luận kinh điển.
Sự kết họp YHCT với YHHĐ tại Trung Quốc là một trong những chủ trương chính của Ngành Y tế Trung Quốc. Trong đó các thầy thuốc Tây y được đào tạo thêm về YHCT bên cạnh những thầy thuốc chuyên khoa YHCT và các thầy thuốc YHCT được đào tạo thêm về YHHĐ, họ được công nhận một cách chính thức vào hệ thống y tế. Hệ thống CSSK bằng YHCT của Trung Quốc theo báo cáo của WHO lên đến 525000 bác sĩ chuyên khoa YHCT với 2654 bệnh viện YHCT, 170 trường đại học và các viện nghiên cứu về YHCT. số lượng người dân sử dụng YHCT tại Trung quốc là 90%, lượng bệnh nhân hàng năm điều trị ngoại trú là là 200 triệu, bệnh nhân nội trú là 3 triệu lượt người một năm.
YHCT Trung quốc đã được hơn 120 quốc gia trên thế giới như Singapore, Malaysia, Indonesia [44], [45]. Nhật bản cũng là một quốc gia có nền YHCT lâu đời và phát triển với lịch sử trên 1400 năm. Nhật Bản được xem là nước có tỷ lệ người sử dụng YHCT cao nhất trên thế giới hiện nay. Thuốc cổ truyền Nhật Bản là sự kết hợp giữa thuốc cổ truyền Trung Quốc và thuốc dân gian Nhật Bản gọi chung là Kampo.
Tính từ năm 1974 đến 1989, sử dụng các loại thuốc YHCT ở Nhật Bản đã tăng 15 lần trong khi các loại tân dược chỉ tăng 2,6 lần. Khoảng 65% bác sĩ ở Nhật khẳng định rằng họ đã sử dụng phối hợp đồng thời thuốc YHCT và thuốc YHHĐ [41], [44], [45]. 8 Ở khu vực Đông Nam Á các nước Indonesia, Malaisia, đặc biệt là Thái Lan. cũng là những nước có truyền thống sử dụng YHCT để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ.
Từ năm 1950 đến 1980, YHCT Thái Lan gần như bị tê liệt hoàn toàn do quá coi trọng YHHĐ. Điều này có ảnh hưởng đến chất lượng CSSKBĐ ở Thái Lan. Từ năm 1980, chính phủ và ngành y tế Thái Lan đã kịp nhận ra những sai lầm này và đã có những biện pháp hữu hiệu khôi phục lại nền YHCT như: khẩn trương thiết lập chính sách phát triển thuốc thảo mộc trên phạm vi cả nước, tiến hành các cuộc điều tra về cây thuốc, các nghiên cứu dược học, y xã hội học và đồng thời triển khai kế hoạch thành lập các trung tâm YHCT tại các tỉnh nhằm dần từng bước đưa YHCT vào hệ thống y tế quốc gia phục vụ CSSK cho nhân dân [37], Tại Àn Độ tỉ lệ người dân sử dụng YHCT cũng rất cao, khoảng 70% [40], Tại Triều Tiên, số người sử dụng thuốc bổ sung và thay thế có nguồn gốc từ dược liệu trong CSSK ngày càng trở nên rộng rãi [39]. Triều Tiên là nơi có những vị dược liệu nổi tiếng như Nhân sâm, Linh chi.
Tại Singapore, có khoảng 12% bệnh nhân ngoại trú sử dụng YHCT. Một khảo sát của Bộ Y tế năm 1994 cho thấy 45% người dân Singapore sủ dụng YHCT [44] Tại Lào, trong nghiên cứu của K.Sydra và cộng sự điều tra 600 hộ gia đình về sử dụng YHCT. Tỉ lệ sử dụng là 77%, tuy nhiên tỉ lệ sử dụng YHCT tại tuyến cơ sở lại rất thấp. Bộ Y tế Lào đã khuyến khích nhân dân sử dụng YHCT trong CSSK, trồng cây thuốc trong vườn nhà [35].
Cuba là một nước đang phát triển, tuy nhiên những chỉ số sức khỏe của Cuba rất tốt, tỉ lệ người dân sử dụng YHCT trong các cơ sở y tế rất cao, 86% các y bác sĩ Cuba sử dụng các phương pháp chữa bệnh bằng YHCT trong điều trị [36]. Theo báo cáo của Bộ Y tế Philippines có khoảng 250000 thầy thuốc YHCT đang hoạt động tại nước này, họ đặc biệt có hiệu quả trong việc hướng dẫn người dân tại cộng đồng trong CSSK ban đầu [44]. Tại châu Phi có tới 80% dân số sử dụng YHCT trong CSSK. Tại Nam Phi có tới 30 triệu người được điều trị bằng YHCT và có khoảng 200000 thầy thuốc YHCT 9 trong hệ thống y tế.
Tại Ethiopia tỉ lệ dân số sử dụng YHCT trong CSSK ban đầu lên tới 90% [38]. Một nghiên cứu tại Nauru năm 1997 đã cho thấy 60% người tham gia nghiên cửu và 71% bệnh nhân đang điều trị trong bệnh viện sử dụng YHCT [44], Đối với khu vực Mỹ latin, theo báo cáo của WHO 71% dân số Chile sử dụng YHCT và 40% dân số Colombia đã sử dụng YHCT trong khám chữa bệnh [45]. Trong khoảng 10 năm trở lại đây mối quan tâm đối với thuốc YHCT ngày càng được tăng lên ở nhiều quốc gia. Năm 1989 có 1/3 người Mỹ đã sử dụng thuốc YHCT.
Năm 1990 doanh số bán ra của thuốc YHCT ước khoảng 1 tỷ USD. Năm 2003-2004 doanh thu của Tây Âu đạt 5 tỉ USD. 60% dân số Hà Lan và Bỉ, 74% dân số Anh hài lòng với phương pháp chữa bệnh theo YHCT [44], [47]. Châm cứu là một hình thức chữa bệnh không dùng thuốc của YHCT đã trở nên rất phố biến.
Châm cứu bắt nguồn từ Trung quốc nhưng ngày nay đã được sử dụng tại 78 quốc gia trên thế giới. Theo báo cáo của Hội Châm cứu thế giới, hiện nay có khoảng 50000 các nhà châm cứu tại các nước châu Á, 15000 nhà châm cứu ở châu Âu. Tại Đức, 77% các trung tâm chống đau sử dụng châm cứu trong điều trị, tại Bỉ 74% các bác sĩ điều trị giảm đau sử dụng châm cứu [45]. YHCT không chỉ điều trị những chứng bệnh thông thường như cảm mạo, giảm đau, bổ dưỡng mà còn có tác dụng điều trị nhiều bệnh lý phức tạp như sốt rét, điều trị hỗ trợ cho bệnh nhân HIV/AIDS.
Tỉ lệ bệnh nhân có HIV/AIDS tại Mỹ sử dụng YHCT làm thuốc điều trị hỗ trợ lên tới 78% [45].