Chương 1 TỔNG QUAN 1. BỆNH SỐT RÉT Bệnh sốt rét là một bệnh lây truyền theo đường máu do ký sinh trùng (KST) Plasmodium gây ra. Bệnh lây truyền qua trung gian truyền bệnh là muỗi Anopheles, biểu hiện điển hình bằng những cơn sốt rét với ba triệu chứng cơ bản: Rét run, sốt, ra mồ hôi. Bệnh lưu hành có tính chất địa phương, trong những điều kiện thuận lợi có thể phát thành dịch [19] [24] [1] 1.
KÝ SINH TRÙNG SỐT RÉT [1] KSTSR là sinh vật đơn bào, chu kỳ sinh sản và phát triển qua hai vật chủ là người và muỗi. Người là vật chủ phụ, muỗi Anopheles cái là vật chủ chính đồng thời là vật chủ trung gian truyền bệnh. Có chu kỳ sinh sản vô giới trong cơ thể người và sinh sản hữu giới trong cơ thể muỗi. Trong cơ thể người giai đoạn phát triển ở gan của P.ovale giống nhau, có thể ngủ (Hypnozoites) trong gan vì vậy bệnh nhân mắc hai loại này gây ra sốt rét tái phát xa nên bệnh có thể kéo dài dai dẳng.falciparum do không có thể ngủ ở gan, nên bệnh không có SR tái phát xa.
Giai đoạn ở hồng cầu, thời gian để hoàn thành chu kỳ vô giới của P.ovale là 48 giờ, do vậy nhịp độ cơn sốt của 3 loại KSTSR này là cách nhật.malariae cần 72 giờ để hoàn thành chu kỳ vô giới ở hồng cầu nên gây cơn sốt cách hai ngày. Chu kỳ hữu giới ở muỗi, KSTSR cần phải có nhiệt độ thích hợp để phát triển. Nhiệt độ tốt nhất để thoa trùng phát triển trong cơ thể muỗi là 28 - 30oC. Nhiệt độ tối thiểu cần thiết cho sự phát triển của từng loại Plasmodium là: P.
Tổng số nhiệt độ dư tích lũy cần thiết của P. Khi nhiệt độ càng cao, thời gian hoàn thành chu kỳ hữu giới càng ngắn và khi nhiệt độ dưới mức tối thiểu, KSTSR không phát triển được trong cơ thể muỗi. QUÁ TRÌNH LÂY TRUYỀN BỆNH SỐT RÉT [38] Quá trình lây truyền sốt rét liên quan đến mầm bệnh sốt rét (giao bào), nguồn bệnh nhân sốt rét (BNSR) - Người chứa mầm bệnh, vật chủ trung gian truyền bệnh, người cảm thụ. Mầm bệnh: Hiện nay, trên thế giới có 5 loài KSTSR ký sinh ở người đó là P.
Nguồn bệnh sốt rét : BNSR có thể biểu hiện dưới các thể sau đây: Sốt rét thường, sốt rét nặng, sốt rét ác tính. Người mang ký sinh trùng lạnh là người mang KSTSR nhưng không có biểu hiện triệu chứng sốt rét [38] 1. Trung gian truyền bệnh: Muỗi Anopheles thuộc họ Culicidae, phân họ Anophelinae. Trên thế giới có khoảng 420 loài Anopheles, 70 loài là trung gian truyền bệnh sốt rét.
Trong số 60 loài Anopheles ở Việt Nam, có 15 loài đã được xác định là trung gian truyền bệnh sốt rét chính, trung gian truyền bệnh phụ và trung gian truyền bệnh nghi ngờ. Các trung gian truyền bệnh chính: An.epiroticus); các trung gian truyền bệnh phụ: An. Ở miền Bắc nước ta có 33 loài Anopheles; Nam Trung bộ và Tây Nguyên có 45 loài; Nam bộ và Lâm Đồng có 44 loài [36]. Cơ thể cảm thụ: Người cảm thụ có thể có miễn dịch tự nhiên và miễn dịch tạo thành.
Một số người có miễn dịch tự nhiên đối với bệnh sốt rét, còn miễn dịch tạo thành được giải thích bằng hai cơ chế là miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào. 6 Cơ thể muỗi Oocyst Thoa trùng Zygote Thành dạ dày Phòng chống Tuyế n nước bọt Phòng chống vector vecor Chẩn đoán và điều trị sớm Chu kỳ hồng cầu Adapted from: Hình 1. Quá trình lây truyền bệnh sốt rét 1. LÂM SÀNG BỆNH SỐT RÉT 1.
Sốt sơ nhiễm Xảy ra đầu tiên ở người chưa có miễn dịch với bệnh sốt rét. Thời kỳ ủ bệnh trung bình là 9 - 10 ngày, dài hay ngắn tùy theo loại KSTSR. Cơn sơ nhiễm thường chỉ đau cơ, đau đầu, buồn nôn, nôn, ỉa lỏng nên ít khi được nghĩ đến sốt rét. Nếu không được điều trị thì sẽ bước sang thời kỳ cơn sốt rét điển hình với cơn rét run tiếp theo là sốt nóng, bệnh nhân khát nước, da khô, đau đầu, nôn mửa.
Cơn sốt kéo dài 2 - 6 giờ, tiếp theo là cơn vã mồ hôi [1][30]. Những cơn sốt tái phát gần và tái phát xa Cơn tái phát gần thường xảy ra đối với P.malariae, Cơn tái phát xa xảy ra với P.vivax; cơn tái phát xa có thể sau 2 năm do P.vivax, hiếm hơn có thể tái phát sau 20-30 năm do P. Sốt rét do Plasmodium vivax Là thể sốt rét nhẹ ít biến chứng, thời gian ủ bệnh từ 12 - 20 ngày; khởi phát liên tục sốt dao động 2-3 ngày, kiểu sốt cách nhật không phải là tuyệt đối, tiến triển bán cấp hay mạn tính, có lách to, thể trạng suy sụp, da sạm, cuối cùng là suy kiệt. Diễn biến lâm sàng của P.vivax phụ thuộc vào các type khác nhau.
TCYTTG chia thành 3 type: 7 Type 1: Ủ bệnh ngắn 10 - 20 ngày, hay tái phát, thời gian trầm lặng ngắn. Type 2: Ủ bệnh ngắn 12 - 20 ngày, thời gian trầm lặng về lâm sàng kéo dài và ký sinh trùng trong máu kéo dài. Type 3: Ủ bệnh dài 6 tháng hoặc hơn, khởi phát rất chậm, tiếp theo là tái phát có khoảng cách ngắn dần lại rồi có một giai đoạn trầm lặng kéo dài, rồi lại tiếp những đợt tái phát. Sốt rét do Plasmodium falciparum Là thể lâm sàng quan trọng, gây tử vong cao, kháng thuốc cao; có hai thể lâm sàng chính: Thể thông thường: Ủ bệnh 8-14 ngày.
Khởi phát bằng dấu hiệu đau đầu, đau lưng, li bì, buồn nôn, có khi ỉa chảy, có sốt đi kèm, có thể sốt cách nhật, sốt hàng ngày hoặc sốt liên tục và dao động lớn, có thể thấy dấu hiệu gan to, lách to. Thông thường thì tiến triển tốt sau 2-3 tuần thì trở lại bình thường, sau 3-6 tháng là hết cơn tái phát. Thể nặng có biến chứng: Hôn mê, suy thận, phù phổi, đái huyết sắc tố…[1]. YẾU TỐ NGUY CƠ TRONG BỆNH SỐT RÉT 1.
Đối tượng nguy cơ Đối tượng có nguy cơ mắc sốt rét là người sống trong vùng sốt rét lưu hành, dân cư di biến động giao lưu giữa các vùng sốt rét; người đi rừng, đi làm rẫy, ngủ lại trong rừng, rẫy , dân di cư đến. Đối tượng có nguy cơ sốt rét ác tính (SRAT), chết do sốt rét thường gặp ở trẻ em, phụ nữ có thai, người già yếu, người không có miễn dịch đối với sốt rét. Trong đó đối tượng phụ nữ mang thai sống trong vùng sốt rét lưu hành rất dễ có nguy cơ bị mắc bệnh sốt rét. Trong khi mang thai, sức đề kháng miễn dịch của cơ thể bị suy yếu, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho KSTSR rét gây bệnh.
Mặc dù hiện nay tình hình phụ nữ có thai mắc sốt rét và trẻ em mắc sốt rét trong các vùng sốt rét lưu hành đã được chủ động khống chế bằng các biện pháp 8 phòng chống tích cực nhưng đây cũng là một trong những đối tượng nguy cơ khi mắc sốt rét dễ chuyển thành sốt rét ác tính gây hậu quả tử vong [43]. Theo tổ chức Y tế Thế giới hiện nay khoảng 40% dân số trên thế giới có nguy cơ mắc bệnh sốt rét. Ước tính năm 2013 trên toàn cầu có khoảng 207 triệu ca mắc sốt rét và có 627.000 người chết nhất là trẻ em tại Châu Phi [58]. Cho đến hiện nay, bệnh sốt rét chưa có vắc xin dự phòng, do đó việc lựa chọn giải pháp phòng chống hiệu quả đối với bệnh sốt rét là vấn đề quan trọng đối với từng quốc gia, lãnh thổ.
Người dân di cư, định cư tạm thời hoặc lâu dài, trong đó lý do tìm kiếm việc làm, để phát triển kinh tế là chủ yếu, mà việc này rất khó khăn ở quê nhà nơi họ đang cư trú. Nhóm dân này thường đến các vùng SRLH để tìm vùng đất mới canh tác, đi vào rừng để khai thác gỗ, tìm đá quý hoặc săn bắt động vật… Nhất là các khu vực có đất đai màu mỡ, dễ canh tác, nhiều rừng như các tỉnh Tây Nguyên, và một số tỉnh vùng Đông Nam Bộ. Kết quả dẫn đến một số lớn người bị phơi nhiễm cao với sốt rét, thời gian phơi nhiễm tương đối ngắn và không có miễn dịch sốt rét với nhiều nhóm tuổi khác nhau. Theo lê Khánh Thuận nghiên cứu về biện pháp khắc phục sốt rét gia tăng ở người đi rừng ngủ rẫy cho thấy đây là một trong những vấn đề rất khó khăn đối với công tác phòng chống sốt rét.
Nghiên cứu đã chỉ ra 77,4% đối tượng này đã từng bị sốt rét và chỉ có 57,1% khi vào rừng mang theo màn để ngủ, đây chính là những đối tượng có nguy cơ mắc sốt rét cao [37]. Tuy nhiên các biện pháp áp dụng bảo vệ cho đối tượng di biến động này chưa thật cụ thể, hiệu quả chưa rõ ràng nên nguy cơ gia tăng mắc và tử vong sốt rét ở người dân di biến động, đi rừng , ngủ rẫy là rất cao. Yếu tố nguy cơ 1. Theo khả năng can thiệp: Các yếu tố có thể can thiệp được gồm yếu tố sinh cảnh, tập quán, thói quen, hoạt động kinh tế - xã hội và không thể can thiệp gồm yếu tố thời tiết, yếu tố nội sinh, di truyền, nhóm máu, chủng loại KSTSR đều có liên quan đến tình hình mắc sốt rét ở mỗi địa phương [14].
9 Báo cáo của Pim Martens and Lisbeth Hall năm 2000 về “ Sốt rét đang di chuyển: Biến động dân cư và lan truyền sốt rét” cho thấy sốt rét đang gia tăng ở nhiều nước và một số vùng dù bệnh sốt rét đã hết lưu hành. Một trong những yếu tố góp phần vào sự gia tăng trở lại này là do sự di biến động dân đến định cư ở những vùng đất khác do nhiều lý do như: do kinh tế, do xung đột, do thiên tai… Xác định và hiểu được ảnh hưởng của sự di dân này có thể cải thiện được bằng các biện pháp PCSR. Ở các nước đang phát triển di dân liên quan đến nông nghiệp, đào vàng… và nguy cơ mắc và tử vong do sốt rét là rất cao. Cũng theo phân tích này cho thấy, sốt rét là một trong những nguyên nhân tử vong cao ở đối tượng di biến động dân ở một số vùng của Thailand, Sudan, Somalia, Burundi, Rwanda và Congo.
Vụ dịch gần đây xảy ra ở cộng đồng dân Burundi di cư đến Tây Bắc Tanzania, chết do sốt rét và thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi tăng gấp 10 lần so với trước khi có dịch; phản ánh sự thiếu miễn dịch của nhóm tuổi này [55].