Tổng quan luận án

Bệnh Lở mồm long móng (LMLM - Foot and Mouth Disease, viết tắt là FMD) là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm ở động vật móng guốc chẵn, có khả năng lây lan nhanh trên diện rộng và gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi. Tại Việt Nam, bệnh đã lưu hành trên 100 năm kể từ khi ghi nhận lần đầu vào năm 1898. Dịch bệnh diễn biến có quy luật, chu kỳ 2 - 3 năm lặp lại một lần, chủ yếu do vi rút type O gây ra. Từ cuối năm 2003, vi rút type A xuất hiện và đến năm 2005 xuất hiện thêm type Asia 1, làm cho dịch tễ bệnh trở nên phức tạp và giảm tính mùa vụ.

Trong giai đoạn trước, nhiều nguồn lực thú y tập trung vào kiểm soát cúm gia cầm và bệnh tai xanh ở lợn, khiến đầu tư nghiên cứu dịch tễ bệnh LMLM còn hạn chế, đặc biệt là việc ứng dụng các phương pháp phân tích dịch tễ học hiện đại theo không gian và thời gian. Bên cạnh đó, số liệu tích lũy chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu hoạch định dài hạn cho Chương trình quốc gia phòng, chống bệnh LMLM, đồng thời thiếu các đánh giá định lượng về hiệu quả kinh tế của các biện pháp can thiệp (chủ yếu là tiêm phòng vắc xin) trên phạm vi toàn quốc.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung chính:

  1. Xác định các đặc điểm dịch tễ của dịch bệnh LMLM tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2012.
  2. Xác định mức độ lưu hành vi rút LMLM tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2012.
  3. Đánh giá hiệu quả kinh tế của các biện pháp phòng chống bệnh LMLM tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2012.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các đặc điểm dịch tễ học của dịch bệnh LMLM; đặc tính phơi nhiễm vi rút LMLM trên đàn trâu bò (thông qua mẫu huyết thanh, mẫu dịch hầu họng probang, vi rút phân lập); các yếu tố nguy cơ lây lan; dữ liệu chi phí và thiệt hại kinh tế liên quan đến bệnh.
  • Phạm vi không gian: Phân tích dịch tễ toàn quốc dựa trên dữ liệu báo cáo cấp xã của 63 tỉnh/thành phố giai đoạn 2006 – 2012. Nghiên cứu dịch tễ thực địa, xét nghiệm phơi nhiễm, mang trùng và xác định yếu tố nguy cơ được tiến hành tại 3 tỉnh trọng điểm có nguy cơ cao gồm Lạng Sơn, Nghệ An và Kon Tum (chọn 1 huyện/tỉnh, 5 xã/huyện).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài triển khai từ tháng 8/2012 đến tháng 12/2014. Số liệu dịch tễ hồi cứu thu thập trong giai đoạn 2006 – 2012; hoạt động điều tra dịch tễ thực địa và lấy mẫu diễn ra từ tháng 10/2012 đến tháng 12/2012 (theo dõi mở rộng đến tháng 10/2013).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về bệnh LMLM:

  • Lịch sử và phân bố toàn cầu: Bệnh được Hieronymous Frascastorius mô tả lần đầu năm 1514 tại Ý. Tác nhân gây bệnh được Loeffler và Frosch xác định năm 1897 là vi rút thuộc giống Aphthovirus, họ Picornaviridae. Tính đa dạng huyết thanh được Valée và Carré phát hiện năm 1922 (týp O, A), Waldman và Trautwein tìm ra týp C (1926), tiếp đó là các týp SAT1, SAT2, SAT3 tại châu Phi và Asia1 tại châu Á (Mahy, 2005). Các nghiên cứu của Samuel và Knowles (2001, 2011), Sumption và cộng sự (2008), Freimanis và cộng sự (2015), Brito và cộng sự (2015), Farsang và cộng sự (2013) đã hệ thống hóa 7 serotype và phân bố dịch tễ học theo các nhóm vùng sinh thái trên thế giới.
  • Dịch tễ học bệnh LMLM tại Việt Nam: Ghi nhận từ công trình của Đào Trọng Đạt (2000), Nguyễn Vĩnh Phước (1978), Trần Hữu Cổn (1996), Hồ Đình Chúc (2004), Nguyễn Viết Không và cộng sự (2005), Thái Thị Thủy Phượng (2008), Phan và cộng sự (2010a, 2010b), Nguyễn Văn Hưng (2012). Các tác giả đã phản ánh các đợt bùng phát lớn (năm 1995 với 26 tỉnh có dịch; năm 1999 từ Cao Bằng lây lan 55 tỉnh; năm 2000 lan 60 tỉnh; năm 2006 bùng phát trên diện rộng tại 1.410 xã ở trâu bò và 516 xã ở lợn).
  • Cấu trúc vi rút và cơ chế sinh bệnh: Cấu trúc hạt vi rút kích thước 25-30 nm, ARN chuỗi đơn dương 8450 base (146S), hạt capxit gồm 4 protein cấu trúc (VP1, VP2, VP3, VP4) và 10 protein phi cấu trúc (NSP: L, 2A, 2B, 2C, 3A, 3B1-3, 3C, 3D) (Bachrach, 1968; Grubman và Baxt, 2004; Jamal và Belsham, 2013). Các nghiên cứu cơ chế bệnh sinh tại biểu mô hầu họng, hạch hạnh nhân và trạng thái mang trùng (>28 ngày) được mô tả bởi Andersen (1981), Donaldson (1988), Moonen và Schrijver (2000), Salt (1993), Pacheco và cộng sự (2010), Stenfeldt và cộng sự (2014a, 2014b), Arzt và cộng sự (2011, 2014).
  • Phương pháp chẩn đoán và nghiên cứu dịch tễ: Các phương pháp phân lập tế bào BHK-21 (Capstick và cộng sự, 1965), kỹ thuật huyết thanh học ELISA, 3ABC-ELISA phân biệt kháng thể nhiễm tự nhiên và vắc xin (Tô Long Thành, 2000), RT-PCR và Real-time RT-PCR (Reid và cộng sự, 2002; Clavijo và cộng sự, 2004). Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, thuần tập và bệnh - chứng theo hướng dẫn dịch tễ học của Stevenson (2013).
  • Đánh giá thiệt hại kinh tế và can thiệp: Lý thuyết đánh giá thiệt hại trực tiếp và gián tiếp dựa trên đơn vị vật nuôi LSU của FAOSTAT và các mô hình kinh tế dịch tễ của Knight và Rushton (2013), Jamal và Belsham (2013), Ganeshkumar (2012), Jemberu và cộng sự (2014), Nampanya và cộng sự (2013), Anni McLeod và cộng sự (2011), Tung và Thủy (2007).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Luận án khắc phục sự thiếu hụt các phân tích định lượng không gian - thời gian ở cấp độ toàn quốc cho giai đoạn 2006 – 2012, đo lường các yếu tố nguy cơ nhiễm vi rút ở cấp nông hộ bằng mô hình hồi quy đa biến đa tầng, xác định tình trạng mang trùng bằng mẫu probang tại thực địa, đồng thời áp dụng phương pháp phân tích ngân sách từng phần và tỷ suất chi phí - lợi nhuận để lượng hóa hiệu quả kinh tế của các biện pháp phòng chống LMLM quy mô quốc gia.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các khung phân tích dịch tễ học thú y và kinh tế thú y định lượng:

  • Cơ sở lý thuyết vi sinh và miễn dịch: Ứng dụng nguyên lý nhận diện kháng thể kháng protein phi cấu trúc 3ABC (3ABC-ELISA). Kháng nguyên 3ABC chỉ sinh ra khi vi rút nhân lên trong cơ thể vật chủ khi nhiễm tự nhiên hoặc khi tiêm vắc xin không tinh khiết; các loại vắc xin tinh khiết (đã loại bỏ NSP) không kích thích tạo kháng thể 3ABC. Phản ứng trung hòa vi rút và tính giá trị liên quan kháng nguyên ('r' value) theo hướng dẫn của OIE và Pirbright (Ferris và Donaldson, 1992) để đánh giá mức độ tương đồng giữa chủng vắc xin và chủng thực địa: $r \ge 0,4$ là phù hợp; $0,2 \le r < 0,4$ là tương đối phù hợp; $r < 0,2$ là không phù hợp.
  • Phương pháp dịch tễ học:
    1. Nghiên cứu thuần tập hồi cứu (Retrospective cohort study): Sử dụng dữ liệu báo cáo dịch bệnh cấp xã toàn quốc từ Cục Thú y giai đoạn 2006 – 2012, kết hợp dữ liệu tổng điều tra đàn gia súc năm 2011 của Tổng cục Thống kê và dữ liệu địa lý cấp xã năm 2011 của Nhà xuất bản Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Phân tích trên phần mềm R cùng các gói chuyên dụng epiR và Spatstat để xác định tỷ lệ lây lan ước tính (Estimated Dissemination Ratio - EDR), sơ đồ Steinen phân tích lây truyền cục bộ, khoảng cách tới quốc lộ gần nhất và tính toán nguy cơ xuất hiện ổ dịch (số xã có dịch/100 xã-năm).
    2. Nghiên cứu cắt ngang và bệnh - chứng (Case-control study): Thu thập mẫu huyết thanh và mẫu dịch hầu họng (bằng cốc probang) trên đàn trâu bò tại 15 xã thuộc 3 huyện của 3 tỉnh Lạng Sơn, Nghệ An, Kon Tum. Xét nghiệm 3ABC-ELISA tại Phòng thí nghiệm Cơ quan Thú y vùng VI và giải trình tự gen tại Viện Pirbright (Anh).
    3. Phân tích thống kê yếu tố nguy cơ: Áp dụng mô hình hồi quy logistic nhị biến (Bivariate analysis) để sàng lọc biến số, sau đó sử dụng mô hình hồi quy logistic đa biến đa tầng (Multilevel multivariable analysis) để tính tỷ số chênh (Odds Ratio - OR) với khoảng tin cậy 95% CI.
  • Khung phân tích kinh tế thú y: Sử dụng phương pháp phân tích ngân sách từng phần (partial budget analysis), phân tích chi phí và lợi nhuận (cost-benefit analysis) và phần mềm tính toán hiệu quả chăn nuôi LPEC (Livestock Production Efficiency Calculator). Đơn vị quy đổi vật nuôi (LSU hoặc Carrying Capacity Unit - CCU) được sử dụng để tính toán giá trị tổng đàn có và không có biện pháp can thiệp, thiệt hại mất sức kéo (do ốm, tổn thương móng vĩnh viễn, chết) và chi phí thực hiện Chương trình quốc gia phòng chống LMLM (chi phí vắc xin, công tiêm phòng, chi phí cán bộ).

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan tài liệu

Chương này trình bày cơ sở lý luận về bệnh LMLM, cấu trúc genome và các protein của vi rút, đặc tính nuôi cấy (trên biểu mô lưỡi bò, tế bào BHK-21, tế bào chuyển gen $\alpha v \beta 6$), sức đề kháng của vi rút đối với nhiệt độ, pH và hóa chất sát trùng (NaOH 0,5 - 1%, formol, axit nhẹ). Chương tổng quan cũng phân tích các phương thức truyền lây, đường xâm nhập, cơ chế sinh bệnh học, triệu chứng lâm sàng ở trâu bò và lợn, tình trạng mang trùng bằng cốc probang và các phương pháp chẩn đoán (lâm sàng, phân lập, phản ứng trung hòa vi rút, ELISA, 3ABC-ELISA, RT-PCR). Đồng thời, tác giả tổng hợp kinh nghiệm phòng chống LMLM trên thế giới, chương trình SEACFMD khu vực Đông Nam Á và tình hình dịch tễ LMLM tại Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.

Bảng: Tình hình dịch bệnh LMLM tại Việt Nam giai đoạn 2013 – 2015

Năm Số tỉnh có dịch Số huyện có dịch Số xã có dịch Tổng số gia súc mắc bệnh (con)
2013 09 44 145 5.648
2014 13 31 81 1.978
2015 18 36 62 3.632

(Nguồn: Cục Thú y, 2016, trích dẫn trong Luận án)

Nội dung, vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết địa điểm nghiên cứu (thực địa tại Lạng Sơn, Nghệ An, Kon Tum; xét nghiệm tại Cơ quan Thú y vùng VI và Viện Pirbright - Anh), thời gian thực hiện (8/2012 – 12/2014) và 3 nội dung nghiên cứu chính:

  1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học theo không gian và thời gian của bệnh LMLM tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2012.
  2. Nghiên cứu mức độ phơi nhiễm và mang trùng vi rút LMLM tại 3 tỉnh trọng điểm từ tháng 10 – 12/2012.
  3. Nghiên cứu phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế của một số biện pháp phòng chống bệnh LMLM.

Vật liệu nghiên cứu bao gồm bộ số liệu ổ dịch cấp xã (2006 – 2012), số liệu tổng điều tra nông nghiệp năm 2011, dữ liệu không gian bản đồ hành chính, phần mềm R (epiR, Spatstat), bộ câu hỏi điều tra dịch tễ, mẫu huyết thanh và mẫu probang trâu bò. Quy trình phân tích thống kê nhị biến, đa tầng đa biến và các thuật toán tính toán kinh tế được chuẩn hóa chi tiết.

Kết quả và thảo luận

Chương kết quả và thảo luận tập trung vào 3 nhóm phát hiện lớn:

1. Đặc điểm dịch tễ học theo không gian và thời gian (2006 – 2012)

  • Đặc điểm loài mắc và chết: Trâu là loài có tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao nhất trong các loài gia súc mẫn cảm, tiếp sau đó là bò, lợn và các loài khác.
  • Diễn biến thời gian: Dịch bệnh bùng phát có tính chu kỳ, khoảng 2 - 3 năm lại xuất hiện một đợt dịch lớn nghiêm trọng (đỉnh dịch cao nhất rơi vào năm 2006 và năm 2011). Chỉ số tỷ lệ lây lan ước tính EDR phản ánh rõ các đợt bùng phát và phân tán mầm bệnh.
  • Diễn biến không gian: Nguy cơ trung bình xã xuất hiện bệnh LMLM trên phạm vi toàn quốc là 5,1 (95% CI: 4,9 – 5,2) xã có dịch/100 xã-năm. Ổ dịch xuất hiện tập trung nhiều nhất tại các tỉnh phía Bắc (Đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ), Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Phân tích không gian xác nhận mối tương quan chặt chẽ giữa vị trí phát sinh ổ dịch với hệ thống đường quốc lộ chính.

2. Mức độ lưu hành vi rút, tình trạng mang trùng và yếu tố nguy cơ (10 – 12/2012)

  • Tỷ lệ phơi nhiễm: Xét nghiệm 3ABC-ELISA ghi nhận tỷ lệ dương tính là 24,21% (95% CI: 21,42 – 27,17) ở cấp cá thể gia súc và 29,83% (95% CI: 26,16 – 33,70) ở cấp hộ chăn nuôi.
  • Chủng vi rút lưu hành: Xác định các vi rút lưu hành thuộc serotype O và serotype A. Kết quả xét nghiệm mẫu probang cho thấy có sự trùng khớp giữa týp vi rút phân lập ở động vật mang trùng với chủng vi rút gây dịch ở năm kế tiếp tại địa phương.
  • Yếu tố nguy cơ: Phân tích hồi quy logistic đa tầng, nhiều biến chỉ ra rằng trâu bò được mua về từ nơi không rõ nguồn gốc có tỷ số chênh dương tính với vi rút LMLM cao gấp 5,27 lần so với gia súc do nông hộ tự phối giống, sinh sản (OR = 5,27; 95% CI: 2,22 – 12,52; $p < 0,05$).

3. Hiệu quả kinh tế của các biện pháp phòng chống bệnh LMLM

  • Chi phí chương trình: Chi phí thực hiện Chương trình quốc gia phòng chống LMLM (bao gồm kinh phí mua vắc xin, công tiêm phòng và chi phí chi trả cán bộ tham gia kiểm soát dịch hàng năm) ước tính khoảng 2,6 triệu USD/năm.
  • Thiệt hại sản xuất và giá trị tổng đàn: Khi có áp dụng các biện pháp kiểm soát bệnh (tiêm phòng vắc xin), giá trị sản xuất đàn bò quốc gia ước tính đạt 84,6 triệu USD/năm; trong trường hợp không áp dụng kiểm soát, giá trị này chỉ đạt 81,6 triệu USD/năm. Như vậy, biện pháp kiểm soát đem lại lợi nhuận ròng tăng năng suất chăn nuôi khoảng 3,0 triệu USD/năm.
  • Thiệt hại sức kéo: Chi phí thiệt hại về sức kéo khi không kiểm soát là 1,9 triệu USD/năm; khi áp dụng các biện pháp kiểm soát, thiệt hại này giảm xuống còn 0,96 triệu USD/năm (ngăn ngừa thiệt hại 0,96 triệu USD/năm).
  • Tổng hiệu quả kinh tế: Tổng lợi nhuận định lượng thu được từ các biện pháp kiểm soát bệnh LMLM tại Việt Nam đạt $0,96 + 3,0 = 3,96$ triệu USD/năm. So với chi phí vận hành 2,6 triệu USD/năm, tỷ suất chi phí - lợi nhuận của hoạt động kiểm soát bệnh LMLM đạt mức 1,5:1 (lợi nhuận thu được gấp 1,5 lần chi phí bỏ ra).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  • Là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về dịch tễ học bệnh LMLM tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2012 có ứng dụng các kỹ thuật phân tích dịch tễ học hiện đại về không gian và thời gian trên nền cơ sở dữ liệu quốc gia chi tiết đến cấp xã.
  • Lượng hóa các yếu tố nguy cơ lây nhiễm ở cấp hộ chăn nuôi và cấp xã thông qua mô hình hồi quy đa tầng nhiều biến.
  • Cung cấp bằng chứng thực địa về nguồn bệnh tại chỗ: Kết quả xét nghiệm mẫu probang xác nhận sự trùng khớp giữa týp vi rút phân lập từ động vật mang trùng với chủng gây dịch ở năm kế tiếp, làm sáng tỏ cơ chế tồn tại nguồn bệnh tiềm ẩn, thường trực tại địa phương có thể bùng phát dịch lẻ tẻ khi gặp điều kiện thuận lợi.
  • Lần đầu tiên ứng dụng phương pháp kinh tế thú y (phân tích ngân sách từng phần, mô hình LPEC, tỷ suất chi phí - lợi nhuận) để đánh giá và lượng hóa đầy đủ hiệu quả kinh tế - dịch tễ học của các biện pháp kiểm soát bệnh LMLM ở quy mô quốc gia.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp để điều chỉnh, bổ sung Chương trình Quốc gia phòng, chống bệnh LMLM giai đoạn 2016 – 2020 (Giai đoạn 3 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt).
  • Đề xuất chiến lược sản xuất và nhập khẩu vắc xin LMLM phù hợp với đặc tính kháng nguyên của các chủng vi rút thực địa đang lưu hành (ưu tiên các chủng có giá trị tương đồng $r \ge 0,4$).
  • Tiếp tục duy trì biện pháp tiêm phòng định kỳ 2 lần/năm (lần 1 vào tháng 3 - 4, lần 2 vào tháng 9 - 10) tại các vùng khống chế, vùng đệm và vùng nguy cơ cao (đặc biệt là khu vực biên giới và các xã dọc các tuyến quốc lộ huyết mạch) nhằm đảm bảo tỷ lệ bảo hộ đàn đạt 80 - 90%.
  • Tăng cường kiểm soát chặt chẽ hoạt động buôn bán, vận chuyển gia súc liên tỉnh và quản lý gia súc mới nhập đàn tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Dữ liệu điều tra chuyên sâu về phơi nhiễm huyết thanh học (3ABC-ELISA), tình trạng mang trùng bằng cốc probang và phỏng vấn bộ câu hỏi yếu tố nguy cơ chỉ tập trung thực hiện tại 15 xã thuộc 3 huyện của 3 tỉnh trọng điểm (Lạng Sơn, Nghệ An, Kon Tum), chưa thể mở rộng lấy mẫu sinh học trên toàn bộ các tỉnh thành trên cả nước. Kết luận về vai trò nguồn bệnh tiềm ẩn tại chỗ của gia súc mang trùng mới dừng ở mức bằng chứng dịch tễ thực địa, cần thêm các nghiên cứu gây nhiễm thực nghiệm bổ trợ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục duy trì và cập nhật hệ thống cơ sở dữ liệu dịch tễ học không gian - thời gian cấp xã; mở rộng các mô hình mô phỏng kinh tế dịch tễ với các kịch bản lây lan khác nhau; nghiên cứu sâu về biến đổi di truyền phân tử của các phân dòng vi rút mới xuất hiện để kịp thời điều chỉnh chủng vắc xin phòng bệnh.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị ứng dụng và tham khảo cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Thú y, Dịch tễ học thú y, Vi sinh vật truyền nhiễm: Tham khảo quy trình ứng dụng ngôn ngữ R (epiR, Spatstat) trong phân tích dịch tễ học không gian - thời gian, phương pháp thiết kế nghiên cứu bệnh - chứng đa tầng và kỹ thuật chẩn đoán phân biệt kháng thể 3ABC-ELISA, lấy mẫu dịch hầu họng probang.
  • Cơ quan quản lý chuyên ngành Thú y (Cục Thú y, Chi cục Chăn nuôi và Thú y các tỉnh): Sử dụng kết quả phân tích phân bố không gian và các yếu tố nguy cơ dọc các trục quốc lộ để quy hoạch vùng đệm, vùng khống chế, xây dựng bản đồ dịch tễ và tổ chức các chốt kiểm dịch vận chuyển động vật hiệu quả.
  • Các nhà hoạch định chính sách kinh tế nông nghiệp: Tham khảo phương pháp phân tích ngân sách từng phần và tỷ suất chi phí - lợi nhuận (1,5:1) để xây dựng luận cứ bảo vệ kinh phí đầu tư công cho các chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống dịch bệnh gia súc.

Câu hỏi thường gặp

1. Chu kỳ bùng phát và nguy cơ xuất hiện dịch LMLM cấp xã tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2012 được xác định như thế nào?
Bệnh LMLM tại Việt Nam diễn biến có quy luật chu kỳ, khoảng 2 - 3 năm lại xuất hiện một đợt dịch bùng phát nghiêm trọng (điển hình là các đỉnh dịch năm 2006 và năm 2011). Nguy cơ trung bình xuất hiện ổ dịch LMLM trên phạm vi toàn quốc là 5,1 (khoảng tin cậy 95% CI: 4,9 – 5,2) xã có dịch/100 xã-năm, tập trung chủ yếu tại các tỉnh phía Bắc, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

2. Tỷ lệ phát hiện kháng thể 3ABC-ELISA trên đàn trâu bò tại khu vực nghiên cứu là bao nhiêu và mang ý nghĩa gì?
Xét nghiệm huyết thanh học ghi nhận tỷ lệ dương tính với kháng thể kháng protein phi cấu trúc 3ABC-ELISA là 24,21% (95% CI: 21,42 – 27,17) ở cấp cá thể gia súc và 29,83% (95% CI: 26,16 – 33,70) ở cấp hộ chăn nuôi. Do vắc xin tinh khiết đã loại bỏ các protein phi cấu trúc, sự hiện diện của kháng thể 3ABC chứng minh tỷ lệ trâu bò phơi nhiễm với vi rút LMLM thực địa trong tự nhiên tại các địa bàn khảo sát ở mức tương đối cao.

3. Yếu tố nguy cơ chính làm gia tăng khả năng nhiễm vi rút LMLM tại hộ chăn nuôi được lượng hóa ra sao?
Kết quả phân tích mô hình hồi quy logistic đa tầng, nhiều biến xác định việc nông hộ mua trâu bò từ những nơi không rõ nguồn gốc làm tăng tỷ số chênh dương tính với vi rút LMLM lên 5,27 lần (95% CI: 2,22 – 12,52; $p < 0,05$) so với việc sử dụng con giống tự sản xuất tại chỗ.

4. Hiệu quả kinh tế của các biện pháp kiểm soát bệnh LMLM tại Việt Nam được lượng hóa cụ thể như thế nào?
Chi phí thực hiện kiểm soát bệnh LMLM hàng năm ước tính khoảng 2,6 triệu USD. Việc áp dụng các biện pháp kiểm soát (chủ yếu là tiêm vắc xin) giúp duy trì giá trị sản xuất đàn bò quốc gia đạt 84,6 triệu USD/năm (tăng 3,0 triệu USD so với mức 81,6 triệu USD/năm khi không kiểm soát) và giảm thiệt hại sức kéo từ 1,9 triệu USD xuống 0,96 triệu USD/năm (tiết kiệm 0,96 triệu USD/năm). Tổng lợi nhuận định lượng đạt 3,96 triệu USD/năm, mang lại tỷ suất chi phí - lợi nhuận là 1,5:1.

5. Kết quả xét nghiệm mẫu probang trên động vật mang trùng mang lại bằng chứng khoa học gì mới?
Xét nghiệm mẫu probang lấy từ dịch hầu họng cho thấy có sự trùng khớp về týp vi rút phân lập ở động vật mang trùng (>28 ngày sau nhiễm) với chủng vi rút gây dịch ở năm tiếp theo tại địa phương. Đây là bằng chứng thực địa khẳng định sự tồn tại của nguồn bệnh tiềm ẩn tại chỗ, thường trực trong đàn gia súc nhai lại, có thể làm phát sinh các ca dịch lẻ tẻ bất kỳ lúc nào khi gặp điều kiện cảm thụ thích hợp.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thu Thủy (2018) đã giải quyết trọn vẹn 3 mục tiêu nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học không gian - thời gian, mức độ lưu hành vi rút và hiệu quả kinh tế của các biện pháp phòng chống bệnh LMLM tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2012. Nghiên cứu đã xác định chu kỳ dịch 2 - 3 năm, lượng hóa nguy cơ nhiễm bệnh ở cấp xã (5,1 xã có dịch/100 xã-năm), tỷ lệ phơi nhiễm kháng thể 3ABC-ELISA (24,21% ở cá thể), đồng thời chỉ ra nguy cơ lây nhiễm tăng cao từ gia súc mua ngoài không rõ nguồn gốc (OR = 5,27). Đánh giá kinh tế thú y khẳng định chương trình kiểm soát bệnh mang lại tổng lợi nhuận định lượng 3,96 triệu USD/năm với tỷ suất chi phí - lợi nhuận đạt 1,5:1. Các kết quả này đã đóng góp cơ sở dữ liệu khoa học và thực tiễn trực tiếp để phê duyệt, điều chỉnh Chương trình Quốc gia phòng, chống bệnh LMLM giai đoạn 2016 – 2020 tại Việt Nam.