Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khát quát về bệnh Đái tháo đường 1. Khái niệm Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, với đặc điểm tăng glucose máu do khiếm khuyết về tiết hay tác động của Insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính kéo dài gây nên rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide và lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt và thần kinh [2,9].
Phân loại bệnh Theo một số nghiên cứu tại Hoa Kỳ và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phát triển tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ bằng nghiệm pháp dung nạp glucose và được Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) cập nhật năm 1997, được phê duyệt lại năm 2003 [1,10]. Từ năm 1999, năm 2003 và năm 2006, Ủy ban chuyên gia của ADA, Hội Đái tháo đường châu Âu đã cập nhật phân loại bệnh ĐTĐ như sau: - ĐTĐ týp 1 là có phá hủy tế bào bê ta và thiếu Insulin tuyệt đối, được chia làm hai thể theo nguyên nhân là do cơ chế tự miễn dịch và do vô căn, không phụ thuộc kháng thể kháng bạch cầu ở người. - ĐTĐ týp 2 đặc trưng bởi đề kháng Insulin, giảm tiết Insulin, tăng sản xuất glucose từ gan và bất thường chuyển hóa mỡ. - Đái tháo đường thai kỳ là ĐTĐ phát hiện lần đầu lúc phụ nữ mang thai và sau sinh phần lớn glucose máu trở về bình thường, một số ít người tiến triển thành bệnh ĐTĐ týp 2.
Bệnh ĐTĐ thể LADA là ĐTĐ tự miễn nhưng xảy ra ở người trưởng thành. - Một số týp khác như ĐTĐ do thiếu hụt chức năng tế bào bê ta di truyền, thiếu hụt hoạt động Insulin do di truyền, do các bệnh tuyến tụy ngoại tiết, hội chứng đa nội tiết tự miễn, cushing, u tế bào tiết glucagon. Dịch tễ học bệnh đái tháo đường - Tình hình mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới: Theo số liệu thống kê của IDF vào năm 2017, có 425 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, ¼ trong số đó là những trên 65 tuổi. Ước tính mắc ĐTĐ typ 1 ở trẻ em và thanh thiếu niên đã đạt đến 1 triệu người.
Dự báo vào năm 2045 thế giới có 629 triệu người mắc ĐTĐ và 352 triệu người có nguy cơ mắc. Năm 2017, số mắc ĐTĐ týp 2 trong độ tuổi từ 20-79 là 327 triệu người và dự đoán con số này vào năm 2045 sẽ tăng lên 438 triệu người bệnh. Có 4 triệu ca tử vong xảy ra do ĐTĐ và biến chứng của ĐTĐ vào cuối năm [2,11]. - Tình hình bệnh bệnh ĐTĐ tại Việt Nam: Theo một báo cáo quốc gia vào năm 2016, ĐTĐ đang ngày càng trẻ hoá.
Các người bệnh đến cơ sở y tế khi mắc bệnh đã vào giai đoạn muộn 60%. Đáng báo động là cứ 7 người trưởng thành thì có 1 người mắc các yếu tố tiền ĐTĐ. Nhưng trong 10 người bệnh mắc ĐTĐ thì chỉ chưa đến 1 người bệnh đạt mục tiêu điều trị [12]. Theo IDF năm 2017, Việt Nam có đến 3,54 triệu người lớn mắc ĐTĐ, chiếm khoản 6% dân số.
Ngoài ra, số người mắc ĐTĐ chưa được chẩn đoán đến hơn 1,88 triệu người. Như vậy, tỷ lệ mắc bệnh thực tế còn cao hơn số liệu đã thống kê được trước đó [2,13]. Đến năm 2020, kết quả điều tra toàn quốc ở người 30-69 tuổi, tỷ lệ ĐTĐ là 7,3%, tiền ĐTĐ là 17,8% [3]. Ngoai ra, tỷ lệ mắc tại một số tỉnh, thành phố như tại Trà Vinh năm 2012, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người ≥ 45 tuổi là 9,5%, tiền ĐTĐ là 19,3% [14].
Nghiên cứu tại Đà Nẵng năm 2017, tiền ĐTĐ là 36,5%; ĐTĐ týp 2 là 13,1%, số mắc bệnh chưa được chẩn đoán chiếm 65,5% [7] và tại Quảng Bình năm 2012, tỷ lệ ĐTĐ là 4,26%, tiền ĐTDD là 14,87% [8]. Chất lượng cuộc sống và phương pháp đánh giá 1. Chất lượng cuộc sống 1. Khái niệm về chất lượng cuộc sống Theo Tổ chức Y tế thế giới, CLCS là nhận thức của bản thân về các khía cạnh của cuộc sống phải phù hợp với văn hóa, các giá trị mà ở nơi mà họ ở, liên quan đến những mục đích, kỳ vọng, chuẩn mực, những mối quan tâm của họ.
Đây được xem là một khái niệm khá rộng, phức tạp bị ảnh hưởng bới các yếu tố như sức khỏe thể chất, tâm lý, niềm tin của người dân [15]. Theo định nghĩa của CDC Mỹ, CLCS là có khái niệm rất bao rộng, gồm nhiều góc độ, nó thường xuyên đánh giá cả khía cạnh tích cực và tiêu cực trong cuộc sống. Mặc dù sức khỏe là một phần rất quan trọng trong CLCS, tuy nhiên các yếu tố cũng rất quan trọng như công việc, nhà ở, trường học, hàng xóm, văn hóa, vật chất, tinh thần cũng là yếu tố tạo nên CLCS [16]. CLCS là sự phản ánh những nhu cầu của xã hội, trước hết là nhu cầu về vật chất cơ bản tối thiểu của con người.
Mức đáp ứng đó càng cao thì CLCS càng cao. Ngoài ra, CLCS còn được gắn liền với môi trường và sự an toàn của môi trường. Một cuộc sống sung túc là được đảm bảo bởi những nguồn lực cần thiết như cơ sở hạ tầng hiện đại, các điều kiện vật chất và tinh thần đầy đủ. Tổng hợp lại, quan niệm về CLCS là một thể hiện về trí tuệ, tinh thần và vật chất của con người, là mục tiêu phấn đấu nhằm đáp ứng sự phát triển bền vững của các quốc gia.
Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQoL) là một dạng đặc biệt của CLCS có liên quan đến các khía cạnh sức khỏe trong khi vẫn có những thành phần cơ bản tạo ra CLCS chung. HRQoL đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và được đo lường bằng nhiều công cụ. Sự khác biệt rất ít giữa sức khỏe và CLCS và hai khái niệm được đánh giá theo một cách tương đồng [18,19]. 7 Theo WHO, HRQoL được định nghĩa là sự nhận thức về vị trí cuộc sống của họ trong bối cảnh về hệ thống văn hóa và giá trị trong môi trường mà họ đang sống, có liên quan đến mục tiêu, mong đợi, tiêu chuẩn và sự quan tâm của họ.
Đây là khái niệm rộng bị ảnh hưởng rất phức tạp bởi tình trạng sức khỏe thể chất, tinh thần, mức độ tự chủ, mối quan hệ xã hội và các mối quan hệ khác với các đặc trưng nổi bật trong môi trường sống của họ [20]. Sử dụng HRQoL trong nhận thức về sức khỏe thể chất, tâm thần và chức năng đã trở thành một nội dung quan trọng trong các điều tra về sức khỏe và được xem xét như là một chỉ số quan trọng trong các điều tra về dịch vụ và đánh giá hiệu quả các can thiệp. Tự đánh giá tình trạng về sức khỏe cũng chứng minh trở thành công cụ quan trọng trong dự đoán tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong hơn các đo lường về y tế khác. Đo lường HRQoL có thể minh chứng một cách khoa học các ảnh hưởng của sức khỏe tới CLCS và giúp xem xét cẩn thận những hạn chế của các tác động đến sức khỏe đang được triển khai [21,22].
Xây dựng HRQoL trở thành tiêu chuẩn quốc gia về sức khỏe có thể giúp vượt qua rào cản quy tắc xã hội, tâm lý và các dịch vụ y tế. Các chính sách được thay đổi dưới nhu cầu đo lường HRQoL để cung cấp những đánh giá truyền thống của y tế công cộng về tỷ lệ mắc bệnh và tử vong. Sức khỏe cho mọi người giai đoạn 2000, 2010 đến 2020 xác định nâng cao chất lượng cuộc sống là mục tiêu trọng tâm của sức khỏe người dân. HRQoL liên quan đến việc tự chăm sóc các bệnh mãn tính (ĐTĐ, ung thư vú, viêm khớp…) và các yếu tố nguy cơ (như chỉ số khối cơ thể tăng, ít vận động thể lực, hút thuốc lá thường xuyên) [23].
Chất lượng cuộc sống liên quan đến người bệnh ĐTĐ týp 2 Bệnh ĐTĐ týp 2 là một bệnh mãn tính và có thể ảnh hưởng đến cả sức khỏe và chất lượng cuộc sống (QoL). Một phân tích tổng hợp từ 18 nghiên cứu bao gồm các yếu tố liên quan đến CLCS của người bệnh ĐTĐ týp 2 kết quả: tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp, 8 tổng cộng là 57.109 người mắc ĐTĐ týp 2. Việc thực hiện nhiều bài tập thể chất hơn, kiểm tra lượng đường thường xuyên liên quan đến QoL tốt hơn. Có biến chứng, tăng huyết áp, thời gian bị mắc ĐTĐ týp 2 dài, chế độ ăn nhiều thịt đỏ và trầm cảm có liên quan đến QoL kém hơn.
Kết quả cho thấy tập thể dục, kiểm tra lượng đường thường xuyên, có biến chứng, tăng huyết áp, thời gian bị mắc ĐTĐ týp 2 dài, chế độ ăn nhiều thịt đỏ và trầm cảm có liên quan đến QoL của người bệnh [24]. Theo một nghiên cứu cắt ngang ở một tỉnh miền Đông của Ả Rập Xê Út: CLCS liên quan đến sức khỏe của người bệnh ĐTĐ týp 2. Kết quả CLCS trung bình liên quan đến sức khỏe, được báo cáo bằng điểm chỉ số trung bình là 0,808 với hơn ¼ số người bệnh có tình trạng sức khỏe cực kỳ nghiêm trọng ở một số hoặc tất cả các lĩnh vực. Mô hình hồi quy cho thấy giới nam, thu nhập hàng tháng cao, không có biến chứng liên quan đến bệnh ĐTĐ týp 2 và có mức đường máu ngẫu nhiên dưới 200 mg/ dl xác suất có điểm chỉ số cao hơn so với các nhóm còn lại.
Tại Việt Nam, việc gia tăng số mắc ĐTĐ týp 2 một cách nhanh chóng ở người dân, tập trung chính vào người trẻ tuổi. Tuy nhiên vấn đề điều trị, chăm sóc và nâng cao CLCS của những người bệnh này còn khá hạn chế, nguyên nhân số lượng bệnh lớn, đa phần người bệnh đang điều trị tại tuyến y tế cơ sở, với định hướng của ngành là quản lý người bệnh theo nguyên lý y học gia đình tại trạm y tế xã phường. Hiện nay, đã có một số nghiên cứu về CLCS liên quan đến người bệnh ĐTĐ týp 2. Tuy nhiên, các tác giả sử dụng phương pháp khác nhau, kết quả đưa ra chưa đánh giá hết chất lượng cuộc sống trên người bệnh ĐTĐ týp 2.
Đặc biệt, ở nhóm người bệnh có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế thấp như người thu nhập thấp, người địa bàn xa, đồng bào, điều trị và quản lý tại tuyến y tế cơ sở. Các phương pháp đánh giá chất lượng cuộc sống Nghiên cứu về CLCS được tiến hành để đo lường tác động của bệnh và biến chứng tới người bệnh. Đó cũng là một thang đo lượng giá rất hiệu quả của các giải pháp can thiệp y tế đến đời sống sức khỏe.