ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đƣờng là một bệnh chuyển hóa không lây nhiễm phổ biến nhất trên toàn cầu. Bệnh đái tháo đƣờng là một trong những vấn đề sức khỏe của thế kỷ 21 Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), ĐTĐ là “căn bệnh của lối sống” dinh dƣỡng không hợp lý, ít hoạt động thể lực làm cho tốc độ mắc các bệnh mạn tính không lây đặc biệt là bệnh ĐTĐ type 2 gia tăng nhanh chóng [1]. Một số nghiên cứu cũng đã cho thấy, ngƣời bệnh mắc ĐTĐ type 2 thực hiện chế độ dinh dƣỡng đúng, tập luyện thể thao đúng cách sẽ giúp kiểm soát đƣờng huyết tốt hơn, đồng thời có tỉ lệ biến chứng thấp hơn ngƣời bệnh không thực hiện [2], [3]. Dinh dƣỡng điều trị bệnh lý đái tháo đƣờng không những góp phần kiểm soát hiệu quả đƣờng máu mà còn ngăn ngừa các biến chứng thầm lặng của bệnh đái tháo đƣờng và duy trì chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh.
Ở Việt Nam, dinh dƣỡng điều trị trong Bệnh viện bao gồm các hoạt động sàng lọc, đánh giá dinh dƣỡng, chỉ định chế độ ăn bệnh lý theo mã của Bộ Y tế, tƣ vấn, chăm sóc dinh dƣỡng cho ngƣời bệnh .Việc áp dụng đúng chế độ ăn bệnh lý góp phần làm tăng hiệu quả điều trị nhất là trong các bệnh lý suy thận, tăng huyết áp, đái tháo đƣờng…giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị, giảm các biến chứng bệnh. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện cùng với lối sống công nghiệp thì tỉ lệ ngƣời bệnh đái tháo đƣờng tại các cơ sở khám chữa bệnh đang gia tăng. Hiện tại Bệnh viện Bãi Cháy có 2 phòng khám quản lý ngƣời bệnh ĐTĐ ngoại trú. Năm 2023, tổng số lƣợng khám bệnh tại 2 phòng khám này là 38.382 lƣợt, trong đó số lƣợng ngƣời bệnh ĐTĐ là 31.637 lƣợt ngƣời bệnh.
2 Qua một khảo sát nhỏ trong tháng 1 năm 2024 khảo sát 108 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 có độ tuổi từ 18-60 tại phòng khám nội tiết 1 trong đó chỉ có có 30 ngƣời bệnh kiểm soát HbA1C đạt mục tiêu chiếm 27,8% điều đó cho thấy tỉ lệ rất thấp. Nhận thấy tầm quan trọng của việc tƣ vấn chế độ ăn phù hợp với bệnh lý là rất cần thiết, đặc biệt là ngƣời bệnh mắc bệnh ĐTĐ type 2. Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi quyết định cải tiến chất lƣợng “Nâng cao tỉ lệ kiểm soát đƣờng máu ở ngƣời bệnh đái tháo đƣờng type 2 bằng can thiệp dinh dƣỡng cá thể hóa tại phòng khám nội tiết Bệnh viện Bãi Cháy năm 2024”. Mục tiêu chung Nâng cao hiệu quả can thiệp dinh dƣỡng cho ngƣời bệnh đái tháo đƣờng type 2 tại phòng khám nội tiết Bệnh viện Bãi Cháy năm 2024 từ tháng 3 đến tháng 9.
Mục tiêu cụ thể: Nâng tỉ lệ ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 đạt tiêu chuẩn HbA1C mục tiêu sau can thiệp dinh dƣỡng cá thể hóa tại bệnh viện Bãi Cháy năm 2024 từ 27,8 % lên 40%. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Định nghĩa đái tháo đƣờng Bệnh đái tháo đƣờng (ĐTĐ) đƣợc Tổ chức Y tế thế giới (WHO – World Heath Orgnization) định nghĩa là một nhóm các bệnh chuyển hóa đặc trƣng bởi tăng glucose máu mạn tính do hậu quả của thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của insulin hoặc kết hợp cả hai.
Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ làm tổn thƣơng, rối loạn và suy chức năng của nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt là các tổn thƣơng ở mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [4] 1. Phân loại ĐTĐ type 1 (ĐTĐ phụ thuộc insulin): do sự thiếu hụt tuyệt đối insulin bởi phá hủy tế bào của đảo tụy, cơ chế tự miễn, chƣa rõ nguyên nhân [5] ĐTĐ type 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin): do sự phối hợp giữa kháng thể insulin và suy giảm tƣơng đối insulin, insulin không đủ đáp ứng nhu cầu gia tăng do sự kháng insulin [5] Các type khác [5]: Tổn thƣơng gen về chức năng tế bào β. Tổn thƣơng gen về tác dụng của insulin: bất thƣờng về tác dụng qua receptor. Bệnh tụy ngoại tiết dẫn đến rối loạn chức năng tế bào β tƣơng đối hay tuyệt đối: Cắt tụy Viêm tụy mạn tính hoặc tái phát U tân sinh Xơ hóa nang nhiễm sắc tố sắt.
Viêm tụy nang hóa 5 Rối loạn viêm/ thâm nhiễm khác. Đái tháo đƣờng thai kỳ: là tình trạng rối loạn dung nạp glucose ở bất kỳ mức độ nào, khởi phát hoặc đƣợc phát hiện lần đầu tiên trong lúc mang thai. Định nghĩa này không loại trừ trƣờng hợp ngƣời bệnh đã có tình trạng rối loạn dung nạp glucose từ trƣớc (nhƣng chƣa đƣợc phát hiện) hay là xảy ra đồng thời với quá trình mang thai. ĐTĐ trong thời kỳ mang thai phối hợp với tăng rõ rệt nguy cơ các tai biến sản khoa nhƣ thai dị dạng, thai chết lƣu, thai to so với tuổi thai và các biến cố sản khoa quanh cuộc đẻ.
Sau đẻ, có khả năng trở thành ĐTĐ thực sự, trở thành giảm dung nạp glucose hoặc trở về bình thƣờng nhƣng có thể bị ĐTĐ trong những lần có thai tiếp theo. ĐTĐ thai kỳ thƣờng không có triệu chứng nên phải làm nghiệm pháp dung nạp glucose [6] 1. Các biện pháp dự phòng và hỗ trợ điều trị bệnh ĐTĐ Theo Tổ chức Y tế thế giới, sự gia tăng nhanh chóng bệnh ĐTĐ liên quan đến sự thay đổi nhanh về lối sống công nghiệp, điều kiện dinh dƣỡng đƣợc cải thiện cùng với sự giảm hoạt động thể lực. Tốc độ đô thị hóa nhanh và di dân từ vùng nông thôn lên thành thị đã tạo điều kiện tốt cho bệnh phát triển [7] Dựa vào các bằng chứng thuyết phục về vai trò của chế độ ăn, lối sống trong dự phòng ĐTĐ type 2, ngƣời ta khuyến nghị cần duy trì cân nặng ở giới hạn thấp của BMI bình thƣờng (21-23), hoạt động thể lực đều đặn, không béo bụng, duy trì chế độ ăn có lƣợng aicd béo bão hòa thấp (dƣới 7% tổng năng lƣợng) [8].
Ở ngƣời lớn đƣợc chẩn đoán tiền đái tháo đƣờng, nếu họ có hành vi thay đổi lối sống lành mạnh thì có thể ngăn chặn và làm chậm quá trình phát triển thành bệnh đái tháo đƣờng type 2. Điều trị ĐTĐ nhằm mục đích giảm hoặc mất các triệu chứng lâm sàng của tăng glucose huyết, duy trì glucose huyết càng gần với trị số bình thƣờng càng tốt, nhƣng không gây hạ glucose huyết, ngăn ngừa biến chứng cấp tính 6 và mạn tính duy trì cân nặng lý tƣởng nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời bệnh. Do đó điều trị ĐTĐ là điều trị toàn diện. Để đạt đƣợc mục tiêu này, phƣơng pháp điều trị ĐTĐ bao gồm phƣơng pháp dùng thuốc và không dùng thuốc.
Phƣơng pháp không dùng thuốc là kết hợp chế độ ăn hợp lý và vận động thể lực. Một chế độ dinh dƣỡng hợp lý có thể giúp cho ngƣời bệnh đái tháo đƣờng giảm liều thuốc cần dùng, giảm các biến chứng do bệnh gây ra. Nghiên cứu Da Quing trên ngƣời rối loạn dung nạp glucose huyết cho thấy nếu can thiệp dinh dƣỡng đơn thuần sẽ giảm 34% nguy cơ tiến triển đến đái tháo đƣờng type 2, nếu phối hợp cả can thiệp dinh dƣỡng và vận động sẽ giảm 24% nguy cơ tiến triển đến đái tháo đƣờng type 2 [9] Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy, việc tập luyện thể lực thƣờng xuyên có tác dụng làm giảm nồng độ glucose huyết tƣơng ở ngƣời bệnh ĐTĐ type 2, đồng thời giúp duy trì sự bình ổn của lipid máu, huyết áp, cải thiện tình trạng kháng insulin và cải thiện tích cực về mặt tâm lý. Sự phối hợp hoạt động thể lực thƣờng xuyên và điều chỉnh chế độ ăn có thể giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 một cách rất đáng kể [9], [10].
Tƣ vấn dinh dƣỡng là một trong các phƣơng pháp đƣợc áp dụng để hƣớng dẫn ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 thực hành tốt kiểm soát đƣờng huyết, có chế độ ăn hợp lý và lối sống lành mạnh. Nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy sau khi ngƣời bệnh đƣợc tƣ vấn và thực hành tốt thì cân nặng giảm 2,4kg, vòng bụng giảm 2,3cm, BMI giảm 2,7 đơn vị, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05); các chỉ số sinh hóa liên quan chuyển hóa đƣờng (Glucose huyết, HbA1C) và rối loạn chuyển hóa lipid (cholesterol, triglycerid) cũng đƣợc cải thiện rõ rệt theo chiều hƣớng tốt hơn, so với trƣớc can thiệp và so với nhóm chứng sau 6 tháng nghiên cứu [8] 7 1. Dinh dƣỡng điều trị bệnh đái tháo đƣờng trên thế giới và Việt Nam Theo Liên đoàn Đái tháo đƣờng Quốc tế (IDF), năm 2019 toàn thế giới có 463 triệu ngƣời trong độ tuổi 20-79 bị bệnh ĐTĐ, dự kiến sẽ đạt 578 triệu ngƣời vào năm 2030 và 700 triệu ngƣời vào năm 2045. Ƣớc tính hơn 4 triệu ngƣời trong độ tuổi từ 20 – 79 đã tử vong vì các nguyên nhân liên quan đến ĐTĐ trong năm 2019.
Bên cạnh đó, cùng với việc tăng sử dụng các thực phẩm không thích hợp, ít hoặc không hoạt động thể lực ở trẻ em, bệnh ĐTĐ typ 2 đang có xu hƣớng tăng ở cả trẻ em, trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng. Bệnh ĐTĐ gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận, và cắt cụt chi. Đáng lƣu ý, có tới 70% trƣờng hợp ĐTĐ typ 2 có thể dự phòng hoặc làm chậm xuất hiện bệnh bằng tuân thủ lối sống lành mạnh (dinh dƣỡng hợp lý, luyện tập thể dục,…) [11] Ở Việt Nam, năm 1990 tỉ lệ bệnh ĐTĐ chỉ là 1,1% (ở thành phố Hà Nội) và 2,52% (ở thành phố Hồ Chí Minh), 0,96% (ở thành phố Huế), theo nghiên cứu năm 2012 của bệnh viện nội tiết Trung ƣơng cho thấy: Tỉ lệ hiện mắc ĐTĐ trên toàn quốc của ngƣời trƣởng thành là 5,42%, tỉ lệ ĐTĐ chƣa đƣợc chẩn đoán trong cộng đồng là 69,9%. Theo dữ liệu cập nhật của Liên đoàn Đái tháo đƣờng Quốc Tế (IDF) cho thấy năm 2019 Việt Nam có tỉ lệ 6% ngƣời trƣởng thành mắc ĐTĐ [11] 1.
Các can thiệp dinh dƣỡng tại bệnh viện Trong điều kiện dịch vụ chăm sóc y tế tồn đọng bất cập và đời sống ngƣời dân còn nhiều khó khăn, việc tìm ra những giải pháp phù hợp để đảm bảo sức khỏe cộng đồng, tăng hiệu quả điều trị, giảm chi phí cho ngành y tế lẫn ngƣời dân là cấp thiết. Để nâng cao chất lƣợng dịch vụ khám chữa bệnh, một trong những vấn đề cần phải quan tâm là cải thiện tình trạng dinh dƣỡng cho ngƣời bệnh, bởi 8 đây là vấn đề phổ biến và ảnh hƣởng nhiều đến kết quả điều trị.