Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung về đầu tư Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp phát triển y tế 1. Đầu tư phát triển y tế cơ sở nông thôn 1.1 Khái niệm Y tế là khoa học và nghệ thuật phòng bệnh, kéo dài tuổi thọ và tăng cường sức khỏe thông qua những cố gắng có tổ chức của xã hội. Mạng lưới y tế cơ sở (bao gồm y tế thôn, bản, xã, phường, quận, huyện, thị xã) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người dân được CSSK cơ bản với chi phí thấp nhất, góp phần thực hiện công bằng xã hội, xoá đối gim nghèo, xây dựng nếp sống văn hoá, trật tự, an toàn xã hội, tạo niềm tin cho nhân dân với chế độ XHCN.2 Vai trò và đặc điểm: 1.1 Vai trò Ngành y tế là ngành dịch vụ phi lợi nhuận, có chức năng chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhânh dân góp phần đảm bảo tái sản xuất sức lao động và thực hiện an sinh xã hội. Để thực hiện chức năng này, hệ thống y tế cần được thiết lập từ trung ương đến cơ sở theo lĩnh vực để đảm bảo cung cấp các dịch vụ chuyên môn, kĩ thuật trong chăm sóc sức khỏe; các dơn vị sự nghiệp y tế ở địa phương được thành lập và tổ chức theo tuyến, nhằm đảm bảo tính hiệu quả, liên tục trong chăm sóc và quản lí sức khỏe, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Đặc điểm: Mạng lưới y tế cơ sở được phân chia thành 3 cấp - Cấp thôn bản, NVYT hoạt động bán chuyên nghiệp, không có lương, được hưởng phụ cấp 40.000đ/tháng và phụ cấp cộng tác viên các chương trình y tế. Đội ngũ NVYT thôn bản có nguồn gốc khác nhau, do trưởng thôn, TYT xã và UBND xã lựa chọn. - Cấp xã, phường, thị trấn: NVYT làm việc ở TYT, nơi tiếp cận đầu tiên của người dân với hệ thống dịch vụ kỹ thuật của y tế công. Các NVYT của TYT xã có chuyên môn khác nhau, được hưởng lương theo định biên của Nhà nước , được định kỳ đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn và quản lý.
ở những TYT xã hoạt động tốt, nhu cầu KCB của nhân dân trong xã được đáp ứng 80 - 90%, không phải đi lên KCB ở tuyến trên. - Cấp huyện: TTYT huyện là cấp cao nhất trong hệ thống y tế cơ sở, đồng thời là tuyến hỗ trọ kỹ thuật đầu tiên cho CSSKBĐ ở cộng đồng. TTYT huyện là trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế cho nhân dân trong huyện, đồng thời nó trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn các TYT xã các kỹ thuật chuyên môn về KCB, PB, chống dịch và điều hành thực hiện các chương trình y tế trong phạm vi huyện, TTYT huyện gồm có 1 Ban giám đốc điều hành chung, BV huyện và các PKĐK, Đội y tế dự phòng, Đội CSSKSS (trước là Đội BVSKBMTE/ DSKHHGĐ), công ty Dược v.v… TTYT huyện còn là nơi đào tạo, bổ túc nghiệp vụ cho NVYT ở các TYT xã và thôn, bản; là cơ quan chuyên môn tham mưu cho UBND huyện về qun lý hệ thống y tế ngoài công lập ở địa phương (nhà thuốc tư nhân, nhà thuốc YHCT, người hành nghề y tế ngoài công lập, v.2 Nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển mạng lưới y tế nông thôn: 1.1 Khái niệm nguồn vốn ngân sách nhà nước: Luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Ngân sách nhà nước là phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, bao giờ cũng gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước và sự tồn tại phát triển của kinh tế hàng hoá tiền tệ. Sở dĩ ngân sách nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước là do khi nhà nước ra đời đòi hỏi phải có nguồn lực để nuôi sống bộ máy nhà nước.
Do đó, đòi hỏi phải tập trung một bộ phận của cải xã hội vào tay nhà nước để phục vụ yêu cầu quản lý của nhà nước. Đây là điều kiện cần để ngân sách nhà nước ra đời.2 Mô hình quản lí của nhà nước đối với các cơ sở y tế bằng nguồn vốn NSNN Nguồn vốn NSNN được phân bổ tới các địa phương thông qua Sở y tế rồi rót đến từng địa phương. Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, nguồn vốn sẽ được đáp ứng cho các địa phương theo chỉ thị và phương hướng phát triển cùa Chính phủ đề ra nhằm đạt mục tiêu công bằng xã hội. Nguồn vốn NSNN sẽ được phân xuống các tuyến y tế tỉnh và tuyến huyện, giao cho các cơ quan địa phương trực tiếp sử dụng với sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lí cấp trên nhằm đảm bảo tính hiệu quả của dự án, cũng như đảm bảo cho lợi ích của người dân.
Mỗi nguồn vốn NSNN được cấp xuống cơ sở đều đảm bảo được sử dụng hiệu quả và hợp lí với sự giám sát chặt chẽ của các cấp, chính quyền có liên quan. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Đặc điểm vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển y tế: Nguồn vốn NSNN là nguồn vốn được sử dụng cho các mục đích nâng cao phát triển các tiềm lực kinh tế xã hội của đất nước như sủ dụng vào đầu tư phát triển, đầu tư xây dựng cơ bản hoặc sử dụng vào các quỹ phúc lợi. Trong đó, đầu tư phát triển các quỹ phúc lợi cũng như chăm sóc sức khỏe cộng đồng là một trong các mục đích quan trọng mà nhà nước luôn chú ý và đặt lên hàng đầu. NSNN hàng năm cung cấp chủ yếu trong hoạt động của khu vực y tế nhà nước.
NSNN là nguồn kinh phí ổn định, là nguồn có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động chăm sóc sức và bảo vệ sức khoẻ nhân dân mà nguồn khác không thể thay thế được. Nguồn NSNN đầu tư cho hoạt động y tế được phân chia ra làm 3 mảng do ba phòng tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính của Sở Tài chính - vật giá quản lý: Nguồn NSNN cấp cho hoạt động chi thường xuyên của sự nghiệp y tế do phòng Hành chính sự nghiệp cấp phát và quản lý; Nguồn NSNN cấp cho đầu tư phát triển sự nghiệp y tế (ĐTXDCB) do phòng đầu tư quản lý; Nguồn kinh phí cấp cho các chương trình do phòng quản lý ngân sách quản lý. Ở đây chỉ đi sâu vào NSNN chi thường xuyên cho sự nghiệp y tế.4 Vai trò của nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển y tế: NSNN thực chất là một bộ phận của nền tài chính quốc gia được nhà nước hóa dưới hình thức sở hữu toàn dân có phân công, phân cấp quản lí cho các bộ ngành ở trung ương, cho các cấp chính quyền địa phương , được quản lí cho theo cơ chế dự toán hang năm và theo kế hoạch, định hướng trung và dài hạn. Tương tự như vậy NSNN chi cho lĩnh vực y tế được phân cấp thành Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương.
Ðầu tư cho sức khỏe là đầu tư cơ bản, là thành phần quan trọng trong chiến lược tổng thể xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ đất nước. Chính sách tài chính là một trong những chính sách quan trọng nhất, quyết định nhất đến toàn bộ công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Vì vậy, vấn đề lựa chọn định hướng chính sách tài chính cho một thời kỳ dài hay từng giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng. Bên cạnh đó, NSNN còn thực hiện chức năng đảm bảo công bằng xã hội, phân phối thu nhập dân cư… Y tế cần thiết có sự cung ứng của nhà nước hay nói cách khác, chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế là cần thiết vì sự nghiệp y tế có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Chất lượng, hiệu quả của các hoạt động y tế ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người, mà sức khoẻ con người là tiền đề cần thiết để tạo ra trí tuệ - tài sản quý nhất của mọi tài sản. Thực tế cho thấy, quá trình phát triển kinh tế xã hội không diễn ra một cách thụ động mà nó phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của con người, con người không nắm vứng khoa học công nghệ tiên tiến, không có phẩm chất nhân cách phù hợp với nhu cầu công việc thì không thể đẩy mạnh phát triển kinh tế là điều tất yếu, điều đó nói lên rằng, y tế không phải là phạm trù phúc lợi đơn thuần mà nó tác động đến sự nghiệp kinh tế của mỗi quốc gia. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường rất khác biệt với vai trò đó trong nền kinh tế tập trung bao cấp. Trong nền kinh tế thị trường, chính phủ không phải là người duy nhất cung cấp các dịch vụ y tế mà cũng không phải là nhà tài trợ duy nhất cho các dịch vụ này như trong nền kinh tế mệnh lệnh, thêm vào đó là có sự cung ứng dịch vụ của khu vực tư nhân trong lĩnh vực y tế.
Tuy nhiên vì mục đích lợi nhuận nên khu vực tư nhân đôi khi không quan tâm đến chất lượng, cũng như tính công bằng hiệu quả của các dịch vụ mình cung cấp, mà chi phí cho mỗi lần sử dụng dịch vụ này thường cao. Vì vậy dễ dẫn tới việc chỉ có người giàu mới có đủ tiền để chi trả cho sự thụ hưởng các dịch vụ này, do vậy làm giảm tính công bằng trong xã hội.