Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược về giải phẫu, hệ thống mạch máu dạ dày tá tràng 1. Sơ lược về giải phẫu dạ dày tá tràng 1. Giải phẫu dạ dày Dạ dày gồm hai thành trước và sau, hai bờ cong lớn và nhỏ, hai đầu tâm vị ở trên và môn vị ở dưới [31].
Hình thể ngoài Từ trên xuống dưới dạ dày gồm có: Tâm vị: rộng khoảng 3-4cm, nằm kế cận thực quản, bao gồm cả lổ tâm vị thông giữa thực quản và dạ dày, không có van đóng kín mà chỉ có lớp niêm mạc. Đáy vị: phình to hình chỏm cầu, ở bên trái lổ tâm vị, ngăn cách với thực quản bụng bởi khuyết tâm vị. Đáy vị thường chứa không khí, dễ nhận thấy trên phim X quang. Thân vị: hình ống, tiếp dưới đáy vị, cấu tạo bởi hai thành và hai bờ.
Giới hạn trên là mặt phẳng ngang lổ tâm vị và giới hạn dưới ngang lổ khuyết góc của bờ cong nhỏ. Phần môn vị gồm hai phần: - Hang môn vị: tiếp nối thân vị. - Ống môn vị thu hẹp lại hình phễu và đổ vào môn vị. Môn vị: ở giữa là lổ môn vị, thông với hành tá tràng.
Cấu tạo của dạ dày Lớp thanh mạc: nằm ngoài cùng, là thành phần liên tục của mạc nối nhỏ. Tấm dưới thanh mạc: tổ chức liên kết rất mỏng, gần như dính chặt vào lớp cơ trừ ở hai bờ cong vị [31]. 4 Lớp cơ từ ngoài vào trong gồm có: - Tầng dọc (lớp cơ dọc): liên tục với các thớ cơ dọc của thực quản và tá tràng, dày nhất ở đoạn bờ cong nhỏ. - Tầng vòng (lớp cơ vòng): bao kín toàn bộ dạ dày, đặc biệt dày ở môn vị tạo thành cơ thắt môn vị.
- Lớp cơ chéo: nằm trong cùng, là một lớp không hoàn toàn, chạy vòng quanh đáy vị và đi chéo xuống về phía bờ cong lớn. Ở quanh lỗ tâm vị, các thớ cơ vòng và cơ chéo hòa trộn lại thành vòng co Helvetius. Tấm dưới niêm mạc: tổ chức liên kết rất lỏng lẻo. Lớp niêm mạc: lót mặt trong dạ dày, lồi lõm xếp thành các nếp chạy theo chiều dọc.
Mặt niêm mạc nổi lên nhiều núm có kích thước từ lmm-6mm trên đó chứa nhiều hố dạ dày. Mỗi hố là ống tiết của từ 3 đến 5 tuyến dạ dày. Các tuyến nầy tiết khoảng 2 lít dịch vị mỗi 24 giờ. Rải rác trong niêm mạc còn có các mô bạch huyết đôi khi tập trung lại thành các nang [31].
Giải phẫu tá tràng Tá tràng là phần đầu của ruột non đi từ môn vị đến góc tá hổng tràng [31]. Hình thể ngoài Tá tràng nằm sát thành bụng sau, ở trước cột sống và các mạch máu vùng cột sống. Tá tràng hình chữ C dài 25cm, đường kính 3cm-4cm. Phần đầu phình to thành hành tá tràng, phần xuống hẹp ở giữa, phần ngang cũng hẹp ở nơi động mạch mạc treo tràng trên chạy qua.
Tá tràng được chia làm 4 phần gồm phần trên, phần xuống, phần ngang và phần lên. Cấu tạo và hình thể trong Cấu tạo tá tràng chia làm 5 lớp từ ngoài vào trong gồm: - Lớp thanh mạc. - Tấm dưới thanh mạc. 5 - Lớp cơ: hai lớp, lớp cơ dọc ở nông và lớp cơ vòng ở sâu.
- Tấm dưới niêm mạc: mỏng, chứa nhiều mạch máu và thần kinh. - Lớp niêm mạc: màu hồng mịn, gồm nhung mao, nếp vòng, nếp dọc và các tuyến tá tràng [37]. Giải phẫu dạ dày tá tràng [26] 1. Sơ lược về hệ thống mạch máu dạ dày tá tràng 1.
Hệ thống động mạch Dạ dày và tá tràng được nuôi bằng nguồn mạch máu từ động mạch thân tạng. Từ đây các nhánh động mạch nhỏ hơn được tách ra tạo nên các vòng mạch cung cấp máu nuôi cho toàn bộ dạ dày tá tràng: vòng mạch bờ cong nhỏ, vòng mạch bờ cong lớn, vòng mạch phình vị, vòng mạch môn vị tá tràng. Các vòng mạch này tạo nên một hệ thống mạch máu vô cùng phong phú cung cấp máu cho dạ dày tá tràng [26], [31]. Hệ thống tĩnh mạch Đa số các tĩnh mạch của dạ dày đổ vào hệ thống tĩnh mạch cửa, chỉ có một nhánh tĩnh mạch của phình vị lớn đổ vào hệ tĩnh mạch chủ.
Các tĩnh mạch đều đi kèm động mạch, trừ hai tĩnh mạch vành vị và tĩnh mạch vị mạc nối phải không có động mạch đi kèm [31]. Các tiểu động mạch và hệ thống mao mạch Động mạch chạy dọc theo dạ dày chia thành các tiểu động mạch đi sâu vào thành dạ dày, tạo thành các đám rối động mạch và làm thành mạng mao mạch cung cấp máu cho các tuyến ở niêm mạc dạ dày. Hệ thống mao mạch bao quanh tuyến tập trung lại thành các tiểu tĩnh mạch và tạo thành các đám rối tĩnh mạch dưới niêm mạc rồi tạo thành các tĩnh mạch nhỏ đi xuyên qua 4 lớp cơ của dạ dày trở về hệ thống cửa [26]. Hiện tượng chảy máu xảy ra khi mạch máu ổ loét bị xuyên thủng, tùy theo kích thước mạch máu bị tổn thương mà có những mức độ chảy máu khác nhau.
Ổ loét ở bờ cong nhỏ và tá tràng (là những nơi có mạch máu phong phú nhất) thường gặp các mạch máu có đường kính lớn nên hay gây chảy máu nặng hơn những vùng khác [26]. Khái quát về xuất huyết tiêu hóa do loét dạ dày tá tràng 1. Định nghĩa xuất huyết tiêu hóa Xuất huyết tiêu hóa (XHTH) là hiện tượng máu chảy đổ vào ống tiêu hóa, sau đó được tống ra ngoài bằng hai hình thức: nôn ra máu hoặc tiêu ra máu. Xuất huyết tiêu hóa trên là XHTH do các tổn thương chảy máu từ góc Treitz trở lên bao gồm: thực quản, dạ dày và tá tràng.
Xuất huyết tiêu hóa là một cấp cứu vừa nội khoa vừa ngoại khoa. Xuất huyết tiêu hóa trên chiếm khoảng 80% các trường hợp XHTH tại các bệnh viện [4], [36]. Đặc điểm dịch tễ học của xuất huyết tiêu hóa trên Theo Joseph J. Sung (2010) báo cáo trong hội thảo quốc tế về XHTH trên tại Hà Nội, mỗi năm trên thế giới có trên 20/100.000 dân phải nhập viện bởi xuất huyết dạ dày tá tràng (DDTT) với tỷ lệ tử vong là 5-15% [59].
Nhiều tài liệu cho biết, ở Mỹ hàng năm, có khoảng 300.000 BN bị XHTH trên phải nhập viện điều trị trong đó, có 50-70% là do loét DDTT [56]. 7 Tại Việt Nam theo thống kê của Nguyễn Khánh Trạch tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa trên do loét dạ dày tá tràng trên tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa chung là 34,56% [43]. Theo một khảo sát gần đây tại 17 bệnh viện lớn ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam với số lượng là 1.061 BN bị XHTH trên không do tăng áp lực tĩnh mạch cửa cho thấy độ tuổi trung bình là 54,8. Trong nghiên cứu này, nam chiếm tỷ lệ 72,6%, nữ là 27,4% những BN tuổi trên 65 thì nguy cơ bị xuất huyết tăng, tỷ lệ phải phẫu thuật là 2,2%, và tỷ lệ tử vong là 0,5% [23].
Cơ chế bệnh sinh của XHTH do loét dạ dày tá tràng Loét dạ dày tá tràng là do sự mất cân bằng giữa các yếu tố “tấn công” như: acid dạ dày, pepsin, H. pylori, các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) và steroid và các yếu tố “bảo vệ” như: prostaglandins, các tế bào biểu mô bề mặt, bicarbonate, lượng máu đến niêm mạc [24]. Việc ức chế tổng hợp prostaglandins nội sinh là một trong những cơ chế bệnh sinh gây loét của NSAIDs [24]. Xuất huyết tiêu hóa là một trong những biến chứng thường gặp của loét DDTT, nguy cơ XHTH gia tăng ở các trường hợp nhiễm Helicobacter Pylori, dùng thuốc NSAIDs, corticoid, thuốc chống đông, stress, thường biểu hiện lâm sàng là nôn ra máu, đi tiêu phân đen [51].
Loét hành tá tràng (HTT) gây xuất huyết gấp 4 lần loét dạ dày (DD) [4]. Loét DDTT gây chảy máu vì bệnh loét làm tổn thương, đứt các mạch máu gây chảy máu [26]. Hệ thống acid chlorhydric (HCl) và pepsin: vừa có tác dụng tại chỗ vừa có tác dụng toàn thân (trên các yếu tố đông máu), Kasenko cho rằng loét hành tá tràng lâu ngày gây tổn thương tụy. Tụy tăng tiết trypsin, men này xúc tác quá trình chuyển profibrinolyzin thành fibrinolyzin.
Fibrinolyzin tăng làm giảm lượng fibrin máu, ảnh hưởng tới các yếu tố đông máu: yếu tố V (proaccelerin), yếu tố VI (proconvertin và convertin), yếu tố IX (anti hemophilie B hay yếu tố Christmas). Các yếu tố V, VII, IX bị rối loạn gây chảy máu nặng [26]. Những 8 ổ loét mới có khi chảy máu đơn độc không có triệu chứng của bệnh loét (loét câm) thường xảy ra ở người cao tuổi, trường hợp này phải chụp dạ dày, soi dạ dày mới chẩn đoán được [37]. Những ổ loét cũ tổn thương lâu ngày thành xơ chai, tổ chức xơ dễ làm thủng mạch máu gây chảy máu.
Tổ chức xơ ngày một lấn át các tổ chức tân tạo. Khi thiếu sự bảo vệ của các tổ chức tân tạo, mạch máu chổ loét dễ bị tổn thương dưới tác dụng ăn mòn của pepsin gây chảy máu. Tổ chức xơ co kéo làm cho khả năng co mạch, đàn hồi của mạch cũng bị giảm đi. Do vậy khi chảy máu, có hình thành cục máu đông bịt chỗ tổn thương của mạch máu lại, thì cục máu đông này cũng dễ bị dạ dày co bóp tống đi, gây chảy máu tái phát [4], [24].
Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng xuất huyết tiêu hóa do loét dạ dày tá tràng 1. Triệu chứng lâm sàng Biểu hiện lâm sàng của XHTH do loét DDTT là nôn ra máu, tiêu phân đen, vừa nôn ra máu vừa tiêu phân đen và một số triệu chứng khác [4]. Nôn ra máu thường là lý do khiến bệnh nhân nhập viện cấp cứu. Triệu chứng này gặp trong 40-50%, là triệu chứng quan trọng nhất để xác định là xuất huyết tiêu hóa trên [24].
Nôn ra máu có thể ít hoặc nhiều, máu nôn ra có thể đỏ tươi, đỏ bầm, cục hoặc lỏng lẫn thức ăn. Màu sắc nôn tùy thuộc vào nồng độ HCl và thời gian ứ đọng trong dạ dày, có thể ít hay nhiều, một hoặc nhiều lần trong ngày. Cần phân biệt nôn ra máu với chảy máu cam (nuốt vào rồi ói ra), ăn tiết canh, ho ra máu (máu đỏ tươi, không lẫn thức ăn, có bọt, pH kiềm) [35], [36]. Tiêu phân đen có thể xảy ra đơn độc hoặc phối hợp nôn ra máu.
Số lượng phân, số lần đi tiêu, hình thái phân nhão hoặc có khuôn, màu sắc từ nâu, đen hoặc nâu đỏ tùy thuộc vào mức độ xuất huyết. Khi xuất huyết lượng nhiều phân có màu đen bóng, nhão, khắm. Khi xuất huyết ồ ạt phân có thể 9 màu đỏ [25]. Khi máu ngừng chảy, số lượng phân ít đi, thành khuôn, phân có màu vàng.