Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh thận mạn giai đoạn cuối và các phương pháp điều trị thay thế thận 1. Định nghĩa bệnh thận mạn Bệnh thận được coi là mạn tính khi có một trong hai tiêu chuẩn sau đây: - Có những tổn thương về cấu trúc và chức năng thận tồn tại kéo dài 3 tháng, kèm theo hoặc không kèm theo giảm mức lọc cầu thận (MLCT), biểu hiện bằng: + Tổn thương tại nhu mô thận được phát hiện qua sinh thiết thận. + Có bằng chứng của tổn thương thận qua xét nghiệm máu, nước tiểu, hoặc bằng chẩn đoán hình ảnh.
- Mức lọc cầu thận giảm < 60 ml/ph/1.73m2 da, kèm hoặc không kèm bằng chứng của tổn thương thận [4]. Chẩn đoán giai đoạn bệnh thận mạn Theo Hội Thận học Hoa Kỳ (2002), bệnh thận mạn được phân thành 5 giai đoạn dựa vào mức lọc cầu thận [4]. Các giai đoạn của bệnh thận mạn [4] Giai đoạn Đánh giá MLCT (ml/phút/1.73m2) 1 MLCT bình thường hoặc tăng ≥ 90 2 MLCT giảm nhẹ 60-89 3 MLCT giảm trung bình 30-59 4 MLCT giảm nặng 15-29 5 MLCT giảm rất nặng <15 (điều trị thay thế) 1. Các phương pháp điều trị thay thế thận 1.
Ghép thận Người bệnh sẽ trải qua một cuộc phẫu thuật lớn để được ghép một quả thận khỏe từ một người hiến thận. Ghép thận là một trong những phương pháp điều trị thay thế thận mang lại chất lượng cuộc sống tốt nhất cho BN bệnh thận mạn giai đoạn cuối. Tuy nhiên, vấn đề hạn chế của ghép thận hiện nay là nguồn thận cho còn rất hiếm. Người cho thận có thể là: 5 - Người sống cùng huyết thống hoặc không cùng huyết thống, người cho cùng huyết thống có tỉ lệ ghép thành công cao.
- Người mất não, chết lâm sàng [4]. Thận nhân tạo chu kỳ Là phương pháp dùng máy thận nhân tạo và màng lọc nhân tạo để lọc bớt nước và các sản phẩm chuyển hóa từ trong máu ra ngoài cơ thể. Khi lọc máu bằng thận nhân tạo cần phải đưa một lưu lượng máu lớn qua màng lọc (khoảng 250 - 300 ml/phút). Do đó cần tạo đường vào mạch máu lâu dài, có nhiều cách để làm tuy nhiên trên lâm sàng chủ yếu tạo lỗ thông động - tĩnh mạch (Arteriovenous Fistulas-AVF) ở cổ tay.
Một tuần lọc 12 giờ được chia làm 3 lần, mỗi lần 4 giờ [4]. Lọc màng bụng Là phương pháp sử dụng chính màng bụng của bệnh nhân làm màng lọc để đào thải các sản phẩm chuyển hóa ra ngoài hàng ngày thông qua dịch lọc. Bệnh nhân được đặt một catheter vào khoang phúc mạc. Thông qua catheter, dịch lọc màng bụng có chứa các chất điện giải và chất tạo áp lực thẩm thấu (Dextrose) được đưa vào trong ổ bụng từ 1 đến 3 lít.
Các chất chuyển hóa và nước dư thừa sẽ đi qua màng bụng của bệnh nhân và thải ra ngoài khi thay dịch. Sơ đồ quá trình lọc màng bụng [4] Hình A: Xả dịch từ ổ bụng xuống túi xả và đuổi khí Hình B: Cho dịch vào bên trong ổ bụng Các hình thức lọc màng bụng: 6 - Lọc màng bụng liên tục ngoại trú (LMBNT) (Continuous Ambulatory Peritoneal Dialysis: CAPD ). - Lọc màng bụng tự động bằng máy (Automated Peritoneal Dialysis: APD) [4]. Lọc màng bụng liên tục ngoại trú (LMBNT) (Continuous Ambulatory Peritoneal Dialysis: CAPD) Lọc màng bụng liên tục ngoại trú (LMBNT) là một trong những phương pháp điều trị thay thế thận cho người bệnh mắc bệnh thận mạn giai đoạn cuối được thực hiện tại Việt Nam từ năm 1998 và từ năm 2004 khi công ty Baxter phát minh túi dịch lọc đôi (rất thuận tiện cho lọc màng bụng) thì có nhiều bệnh viện thành lập trung tâm LMB hơn [3].
Đây là phương pháp LMB được bệnh nhân tự thay dịch bằng tay. Dịch lọc được đưa vào ổ bụng, sau 4-6 giờ được giữ lại, sau đó dịch có chứa các chất thải được dẫn lưu vào túi xả dịch và ra theo nguyên lý trọng lực. Số lần lọc khoảng 4 lần một ngày (ba lần ban ngày và một lần vào ban đêm) [4]. Quy trình quản lý kỹ thuật LMB [6] 8 1.
Xử trí và phòng ngừa biến chứng viêm màng bụng (VMB) trong LMBNT VMB vẫn là một biến chứng nặng trong phương pháp LMB. Tình trạng VMB nặng và kéo dài có thể dẫn tới tình trạng thay đổi tính thấm của màng bụng, rút ngắn thời gian điều trị LMB hay bệnh nhân phải chuyển sang phương pháp thận nhân tạo [19]. Triệu chứng điển hình là dịch xả đục, đau bụng hoặc khó chịu trong bụng. Triệu chứng ít gặp hơn là sốt, buồn nôn, nôn, ớn lạnh, tiêu chảy [27].
Hình ảnh túi dịch đục (giữa) khi bị viêm màng bụng [21] Hình 1.2 là hình ảnh 3 túi dịch (từ trái sang phải): túi thứ nhất là túi dịch mới, túi thứ 2 là túi dịch xả khi bị VMB và túi thứ 3 là túi dịch xả khi không bị VMB. Xử trí của điều dưỡng: Lấy mẫu xét nghiệm từ túi dịch xả bị đục và gửi đi làm xét nghiệm tế bào, nhuộm gram, cấy (theo y lệnh của bác sĩ). Thực hiện súc rửa ổ bụng với 2 đến 3 túi dịch liên tiếp. Thực hiện y lệnh pha thuốc kháng sinh vào dịch LMB và ngâm trong ổ bụng bệnh nhân để điều trị VMB (theo y lệnh của bác sĩ) [21].
Phòng ngừa: Sự huấn luyện bệnh nhân một cách đầy đủ về kiến thức và kỹ năng phòng tránh nhiễm trùng trong LMB là chìa khóa để giảm nguy cơ VMB. Hầu hết các đợt VMB xảy ra có liên quan tới sự kém hiểu biết của bệnh nhân về nguyên tắc vô trùng, sự đụng chạm các đầu kết nối vô trùng cũng như làm sai quy trình kỹ thuật [26] [14]. Khi huấn luyện, chú ý nhấn mạnh rằng QTTD cần được thực hiện trong phòng kín, tránh gió lùa, đầy đủ ánh sáng và không cho vật nuôi vào phòng thay dịch. Bệnh nhân phải thực hiện đầy đủ các bước trong QTTD sau khi rửa tay với xà phòng diệt khuẩn và đeo khẩu trang.
Tuyệt đối không được tiếp tục thay dịch khi đụng chạm các đầu kết nối vô trùng. 9 Phòng thay dịch làm bằng chất liệu không bám bụi và được vệ sinh hàng ngày. Dịch LMB được cất giữ ở nơi không ẩm ướt, không có ánh sáng trực tiếp chiếu vào. Giáo dục cho bệnh nhân biết các con đường mà vi khuẩn xâm nhập vào ổ bụng gây nhiễm trùng, cách phát hiện các dấu hiệu, triệu chứng và cách xử trí.
Thường xuyên kiểm tra quy trình kỹ thuật của bệnh nhân tại bệnh viện và giúp bệnh nhân sửa những lỗi sai [27] [21]. Các chương trình huấn luyện, chăm sóc và quản lý bệnh nhân LMBNT: Lọc màng bụng liên tục ngoại trú (LMBNT) là kỹ thuật được chính người bệnh hoặc người nhà của người bệnh thực hiện tại nhà theo hướng dẫn của điều dưỡng LMB. Vì vậy người bệnh và người nhà cần hiểu rõ và nắm vững các bước tiến hành của phương pháp điều trị, đồng thời tuân thủ nghiêm túc các yêu cầu của quy trình kỹ thuật LMB nhằm mang lại kết quả điều trị tốt và hạn chế tối đa các biến chứng có thể xảy ra [1]. Do vậy, huấn luyện người bệnh là khâu bắt buộc của chương trình LMB.
Năm 2006 Hiệp Hội Thẩm Phân Thế giới (ISPD: International Society for Peritoneal Dialysis) đã thiết lập và công bố các khuyến cáo đầu tiên để huấn luyện người bệnh. Hội đồng liên kết điều dưỡng của ISPD đề nghị việc huấn luyện cần phải liên tục cho đến khi người huấn luyện đánh giá người bệnh tối thiểu phải đạt được một số yêu cầu sau: - Có thể thực hiện an toàn mọi thao tác cần thiết - Hiểu được các khái niệm về lây nhiễm và nhiễm trùng - Có khả năng xử lý một cách thích hợp những vấn đề đã được huấn luyện Nghiên cứu cho thấy việc người bệnh áp dụng đúng các nguyên tắc được huấn luyện đã mang lại kết quả tốt, cải thiện được tỷ lệ VMB, giảm số người bệnh bỏ điều trị, cải thiện cân bằng dịch và tuân thủ điều trị. Các tác giả cũng thấy rằng một chương trình huấn luyện người bệnh được chuẩn bị kỹ lưỡng sẽ cải thiện được chất lượng huấn luyện đồng thời duy trì và khuyến khích sự linh hoạt của người bệnh, đây là yếu tố quan trọng để cải thiện chất lượng điều trị [11]. Chương trình huấn luyện cho bệnh nhân mới (Initial Training): Sự huấn luyện đầy đủ về kiến thức cũng như kỹ năng thực hành cho bệnh nhân mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có thể ảnh hưởng tới sự thành công của phương pháp lọc màng bụng và kết quả lâm sàng [12].
10 Chương trình huấn luyện cho bệnh nhân phải được lên kế hoạch cụ thể về thời gian, địa điểm và thông báo trước cho bệnh nhân [24]. Trước khi lên lịch huấn luyện cho bệnh nhân mới, điều dưỡng cần xác định ai là người học chính. Người học có thể là riêng một mình bệnh nhân; bệnh nhân cùng với người nhà hoặc là người chăm sóc chính của bệnh nhân [11]. Bệnh nhân nên được huấn luyện ở phòng riêng, yên tĩnh và có đủ thời gian để bệnh nhân luyện tập cho đến khi bệnh nhân có thể thực hiện thao tác thật thành thạo.Chương trình học 5 ngày, bao gồm cả lý thuyết và thực hành.
Bệnh nhân được hướng dẫn về quy trình thay dịch, quy trình thay băng chân ống. Bên cạnh đó, điều dưỡng giúp bệnh nhân có cái nhìn tổng quan về phương pháp LMB; hướng dẫn xử trí các sự cố có thể xảy ra tại nhà; các nhiễm trùng có thể gặp và cách phòng tránh; hướng dẫn cách cân bằng lượng dịch vào - ra; chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, sinh hoạt và thích nghi đời sống LMB [8]. Sau khi kết thúc chương trình huấn luyện, bệnh nhân được đánh giá về mức độ thành thạo các thao tác trong quy trình kỹ thuật và được lượng giá về kiến thức qua một bảng câu hỏi. Đảm bảo rằng kiến thức và kỹ năng thực hành của bệnh nhân đạt mục tiêu của chương trình huấn luyện trước khi bệnh nhân ra viện [13].
Chương trình tái huấn luyện (Retraining): Huấn luyện ban đầu tốt vẫn chưa đủ. Trong một nghiên cứu về chương trình tái huấn luyện cho bệnh nhân LMBNT, bệnh nhân được trả lời bảng câu hỏi và được thăm tại nhà cho thấy có tới 23% trong số 353 bệnh nhân là không tuân thủ đúng QTTD tại nhà, 29% bệnh nhân cần được củng cố lại kiến thức và khả năng xử trí các sự cố để kiểm soát nhiễm trùng, 27% cần được huấn luyện lại để sử dụng thuốc cho đúng [25].