Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Vết thương: Là dạng thương tổn khi da bị rách, cắt hoặc đâm thủng (vết thương hở) hoặc bị tác động bởi một lực gây ra chấn thương (vết thương đóng). Trong bệnh lý, nó được xem là vết thương mạnh gây tổn hại lớp biểu bì da [7]. Phân loại vết thương * Theo cơ chế vết thương – Vết thương do rạch: do dụng cụ sắc, bén, nhọn, có tổn thương giải phẫu như đứt cơ, mạch máu… nhưng nguy cơ chính là nhiễm khuẩn [7].
– Vết thương bầm giập: do vật tù, đặc trưng như tổn thương phần mềm có chảy máu, tổn thương giải phẫu nhiều, sưng, nhiễm trùng, có nhiều mô giập nát [7]. – Vết thương rách nát: là vết thương bờ lởm chởm không đều, tổn thương giải phẫu nhiều, nhiễm trùng tăng cao, lành vết thương chậm và sẹo xấu [7]. – Vết thương thủng: do dao đâm, đạn bắn, lỗ vào nhỏ nhưng lỗ ra lớn và tổn thương giải phẫu nhiều [7]. * Theo mức độ nhiễm khuẩn – Vết thương sạch: là vết thương ngoại khoa không bị nhiễm khuẩn.
Vết thương không nằm trong vùng của hô hấp, bài tiết, sinh dục, tiết niệu [7]. – Vết thương sạch nhiễm: là vết thương nằm trong vùng của hô hấp, bài tiết, sinh dục, tiết niệu nhưng có sự kiểm soát nhiễm trùng, vết thương không có dấu hiệu nhiễm khuẩn [7]. – Vết thương nhiễm: vết thương nhiễm khuẩn, vết thương do tai nạn, vết thương trên vùng có nhiễm khuẩn trước mổ. Ví dụ: viêm phúc mạc, chấn thương ruột…[7].
– Vết thương bẩn: vết thương có mủ và có nguồn gốc bẩn trước [7]. * Theo nguyên nhân - Phẫu thuật: do vết rạch hay cắt lọc. - Chấn thương: do cơ học, do nhiệt độ, do hoá chất [7]. 5 * Theo thời gian – Vết thương cấp tính: là vết thương do chấn thương, do phẫu thuật.
Chăm sóc vết thương cấp tính với môi trường tốt thì khả năng lành vết thương sau 4 – 14 ngày. Vết thương cấp tính thường nhiễm khuẩn, chảy máu, vết thương nứt nẻ, vết thương hở, rò sẽ có nguy cơ chậm lành vết thương [7]. – Vết thương mạn tính: loét do nằm lâu, bàn chân tiểu đường, rò vết thương do lao thường kéo dài thời gian lành vết thương. Nguyên nhân chậm lành vết thương do tiểu đường, tuần hoàn kém, tình trạng dinh dưỡng kém, giảm sức đề kháng [7].
– Vết thương mạn tính thường có nhiều mô hoại tử, vì thế việc điều trị thường kèm theo cắt lọc vết thương và chăm sóc tốt [7]. * Tại Trung tâm: Trong thực tế tại Trung tâm tiếp nhận và điều trị người bệnh có thủ thuật thay băng vết thương đối với người bệnh sau phẫu thuật, người bệnh có vết thương, mỗi loại có một biểu hiện tính chất khác nhau. Ta có thể chia ra các loại sau: - Vết thương sạch: Là vết thương không nhiễm khuẩn, trong vết thương sạch ta lại chia làm 2 loại: + Vết thương mới khâu biểu hiện: Mép vết thương phẳng. Các chân chỉ không có dấu hiệu sưng tấy, không có dấu hiệu nhiễm khuẩn ( sưng, nóng, đỏ, đau, không sốt ) [28].
+ Vết thương không khâu: Là vết thương mới bị tổn thương nhưng nhỏ, hoặc những vết thương trong quá trình điều trị tiến triển tốt. Biểu hiện: Mép vết thương phẳng, không có hiện tượng sưng tấy, không có mủ hoặc dịch mủ [28]. Nếu là vết thương cũ thì có tổ chức hạt phát triển tốt. - Vết thương nhiễm khuẩn: Cũng chia làm 2 loại: + Vết thương khâu Biểu hiện: sưng tấy, đỏ xung quanh vết thương và chân chỉ.
6 Bệnh nhân có các triệu trứng nhiễm khuẩn: Tại chỗ có biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau; Toàn thân thường có sốt [28]. + Vết thương không khâu: Có biểu hiện: Xung quanh tấy đỏ, trong vết thương có nhiều mủ, hoặc có tổ chức hoại tử, thối [28]. Nhiễm khuẩn Nhiễm khuẩn: là sự tăng sinh của các vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng dẫn tới phản ứng tế bào, tổ chức hoặc toàn thân, thông thường biểu hiện trên lâm sàng là một hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc [5]. Nhiễm khuẩn bệnh viện Theo Tổ chức Y tế thế giới nhiễm khuẩn bệnh viện được định nghĩa là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian người bệnh (NB) điều trị tại bệnh viện và nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như không nằm trong giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện.
Nhiễm khuẩn bệnh viện thường xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người bệnh nhập viện [4], [5]. Nhiễm khuẩn vết thương Nhiễm khuẩn vết thương xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập vào da. Nhiễm khuẩn có thể chỉ liên quan đến da hoặc ảnh hưởng đến các mô hoặc cơ quan sâu hơn gần vết thương [8]. Các biến chứng của vết thương bị nhiễm khuẩn có thể thay đổi phạm vi từ tại chỗ đến toàn thân.
Các biến chứng tại chỗ nghiêm trọng nhất của một vết thương bị nhiễm khuẩn là vết thương chậm lành dẫn đến không lành được. Điều này thường gây đau đớn, khó chịu và ảnh hưởng xấu đến tâm lý cho bệnh nhân. Các biến chứng toàn thân có thể bao gồm viêm mô tế bào (nhiễm khuẩn da hoặc dưới da), viêm tủy xương (nhiễm trùng xương hoặc tủy xương) hoặc nhiễm khuẩn huyết (sự hiện diện của vi khuẩn trong máu có thể dẫn đến tình trạng viêm toàn thân) [8]. Quy trình thay băng vết thương (TBVT) tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn Quy trình TBVT là công việc làm sạch vết thương, ngăn ngừa nhiễm khuẩn và làm vết thương chóng lành cho NB [7], [28].
Mục đích 7 - Đánh giá mức độ tổn thương, tiến triển của vết thương. - Rửa, thấm hút dịch, cắt lọc tổ chức hoại tử, đắp thuốc vào vết thương. - Phòng ngừa nhiễm khuẩn thứ phát. - Tạo điều kiện tốt nhất để vết thương nhanh chóng hồi phục [7], [28].
Chỉ định - NB sau phẫu thuật, NB có vết thương. - Vết thương bị sưng tấy, đỏ và dính dịch tiết. - Vết thương được tạo ra trong điều kiện không vô khuẩn như: tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp,… [7], [28]. Bảng các bước của quy trình TBVT TT Trình tự Diễn giải từng bước cụ thể Người Thời thực gian hiện Chuẩn bị người bệnh (NB): Điều Chuẩn bị - - Thực hiện 5 đúng.
dưỡng, 1 người bệnh - - Khai thác tiền sử dị ứng. 5 phút hộ - - Thông báo và giải thích cho NB về công việc sắp tiến hành. sinh Chuẩn bị nhân viên y tế: - ĐD, HS mặc đúng trang phục Điều 2 Chuẩn bị nhân viên y y tế, đội mũ, đeo khẩu trang. dưỡng, 5 phút tế - Rửa tay thường quy hoặc sát hộ khuẩn tay nhanh bằng dung sinh dịch chứa cồn.
Chuẩn bị dụng cụ: - Xe thay băng - Dụng cụ thay băng: 1 kéo, 1 pank không mấu, 1 pank có mấu, 2 kẹp phẫu tích. - Dịch/thuốc thay băng: 1 lọ Điều Chuẩn bị dụng cụ NaCl 0.9%, 1 lọ Povidone 3 dưỡng, 5 phút 10%. hộ - Vật tư tiêu hao: Bông, băng, sinh gạc, băng dính, túi nilon, tấm lót nilon. - Xô đựng chất thải: 02 chiếc màu vàng - Hộp đựng dung dịch khử nhiễm: 01 hộp màu vàng 4 Các bước tiến hành kỹ thuật: Điều 5 – 10 8 - Điều dưỡng đi găng tay sạch dưỡng, phút - Sắp xếp dụng cụ thuận tiện hộ cho việc thay băng.
sinh - Trải tấm nilon lót dưới vùng thay băng. - Đặt khay quả đậu hoặc túi nilon đựng gạc bẩn. - Dùng tay hoặc pank không mấu nhẹ nhàng bóc băng bẩn tùy theo nhận định của vết thương, sau đó bỏ pank bẩn vào chậu có dung dịch khử nhiễm. - Đánh giá tình trạng vết thương và thông báo cho NB.
- Điều dưỡng rửa tay thường quy hoặc sát khuẩn tay nhanh. - Rửa vết thương bằng nước muối sinh lý NaCl 0.9% + Dùng gạc củ ấu (bông) thấm nước muối bắt đầu chấm từ bờ mép vết thương theo hình xoáy trôn ốc ra ngoài (miết sát gạc ấu vào da để lấy hết bẩn) theo: * Phía đối diện * Phía bên điều dưỡng * Trực tiếp trên vết thương Lưu ý: Làm như vậy cho đến khi quan sát gạc củ ấu sạch Rửa đến khi sạch. - Sát khuẩn vết thương bằng Povidone, kỹ thuật như rửa vết thương bằng nước muối sinh lý(tùy theo tình trạng vết thương mà thay pank hay không, giữa các thì phải thay gạc củ ấu mới). - Thấm khô Povidone.
- Đặt miếng gạc vô khuẩn lên trên vết thương, băng kín bằng băng dính hay băng cuộn. - Cho NB nằm tư thế thoải mái. 5 Thu dọn dụng cụ và ghi chép Điều 5 phút Thu dọn dụng 9 hồ sơ bệnh án dưỡng, - Phân loại và thu gom chất hộ thải đúng quy định sinh - Tháo bỏ găng tay, rửa tay thường quy hoặc sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn. - Ghi chép hồ sơ bệnh án: Ghi trong phiếu chăm sóc của điều dưỡng: Ngày giờ làm thủ thuật, tình trạng cụ thể của vết thương (số lượng dịch, màu sắc, tính chất) và ký tên người thay băng.
Nguyên tắc thực hiện quy trình thay băng vết thương Trong thực hiện các quy trình kỹ thuật việc tuân thủ từng thao tác trong từng bước của quy trình là rất quan trọng. Trong quy trình TBVT tuân thủ quy trình là rất cần thiết, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự lành vết thương, sự tiến triển vết thương của NB. Để phòng tránh các biến chứng vết thương người điều dưỡng (ĐD), hộ sinh (HS) khi thực hiện quy trìnhTBVT cần lưu ý: - Tại chỗ: Thẩm định thường xuyên các dấu hiệu nhiễm khuẩn vết thương như màu sắc niêm mạc tái, nhiều mủ trên vết thương, có mùi hôi hơn, có mô hoại tử nhiều hơn. Để đẩy nhanh quá trình lành vết thương, ĐD phải áp dụng thay băng đúng kỹ thuật vô khuẩn, dẫn lưu mủ tốt, lấy hết dị vật, cắt lọc mô hoại tử theo y lệnh.
Nhận định tình trạng vết thương trước khi thay băng. ĐD cần nhẹ nhàng khi tháo băng, cần làm ướt băng trước khi tháo để tránh tạo vết thương mới. Chọn dung dịch và sử dụng dung dịch thích hợp, thực hiện y lệnh về dung dịch rửa nếu có. Không làm chảy máu khi thay băng.
Khi rửa vết thương tránh để lại dị vật trên vết thương như: gòn, chỉ, bột phấn. vì nếu còn sót lại ở vết thương thì chính chúng cản trở sự lành vết thương. Cách băng vết thương cũng ảnh hưởng đến tình trạng vết thương như nếu băng chặt làm máu tới nuôi kém, nếu băng quá hẹp cho phép vi khuẩn xâm nhập vào vết thương [11]. 10 - Toàn thân: NB cần được cung cấp nhiều chất dinh dưỡng.
Theo dõi nhiệt độ để đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn của NB. Stress cũng làm chậm lành vết thương, vì thế ĐD giúp người bệnh thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý.