Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. THỰC VẬT HỌC 1. Vị trí của chi Adenosma trong giới thực vật Phân loại theo hệ thống phân loại thực vật có hoa của A. Đặc điểm thực vật chi Adenosma Chi Adenosma là những cây cỏ mọc hàng năm hay lâu năm, thường có mùi thơm.
Lá đơn, mọc đối, có cuống hay không, có mép nhăn [7] Hoa đơn độc ở nách lá hoặc mọc thành chùm có lá hoặc là cụm hoa dạng đầu hay bông. Hai lá bắc con dạng sợi nằm ngay dưới đài. Đài có 5 lá đài không đều, 3 cái ngoài lớn hơn có hình ngọn giáo rộng tới hình tim hay hình trứng, 2 cái ở trong có 4 hình dải hay ngọn giáo. Tràng hình trụ, có 2 môi, môi trên (ở ngoài) hình bầu dục tới tròn, nguyên hay lõm; môi dưới (ở trong) có 3 thùy.
Nhị 4, không thò, 2 trội; bao phấn 2 ô rời nhau, trong cả 4 nhị chỉ có 2 nhị sinh sản; vòi dạng sợi, đầu nhụy dạng đấu [7]. Quả nang có hình trứng, hình nón hay bầu dục, thon hẹp nhiều ở đỉnh, có 2 rãnh, mở cắt vách hay mở ô bởi 4 van; hạt nhiều, nhỏ, hình bầu dục hay hình trụ ngắn; vỏ có vân mạng [7]. Phân bố của chi Adenosma Chi Adenosma có khoảng 15 loài ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á, Nam Á, Trung Quốc và Australia. Ở khu vực Đông Dương: Việt Nam có 7 loài, Lào có 8 loài và Campuchia có 6 loài [30].Trong các loài thuộc chi Adenosma, y học cổ truyền Việt Nam hay dùng 3 loài: Nhân trần, Adenosma glutinosum (L.) Druce hay Adenosma caeruleum R.
Phân bố tập trung nhiều ở các tỉnh vùng núi phía Bắc như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình. Gần đây cũng tìm thấy ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế [30]. Nhân trần, Adenosma glutinosum (L. 5 Bồ bồ, Adenosma capitatum Benth.
hay Adenosma indianum (Lour) Merr. thường gặp từ Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây vào tới Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương [7]. Bồ bồ, Adenosma capitatum Benth. Nhân trần tía, Adenosma bracteosum Bonati thường gặp ở các tỉnh như: Tây Ninh, Bình Dương, khu vực Vũng Tàu, đảo Phú Quốc và Côn Đảo.
Có tài liệu còn ghi nhận ở cả KonTum, Đắc Lắc. Cây cũng phân bố khá phổ biến ở Lào và Campuchia [30]. Nhân trần tía Họ: Hoa Mõm sói Scrophulariaceae. Tên khoa học: Adenosma bracteosum Bonati.
Tên gọi khác: Nhân trần Tây Ninh, Nhân trần cái, Tuyến hương lá hoa [29], Nhân trần nhiều lá bắc [18]. Đặc điểm hình thái Nhân trần tía thuộc loại cây thân thảo, cao 30-40 cm. Thân hình trụ, phân cành từ gốc, phần ngọn có 4 cánh. Cành mọc tỏa ngang hay đứng thẳng.
Lá mọc đối, hình 6 mác thuôn, dài khoảng 2 cm, rộng 7 mm, không cuống, gốc gần như ôm thân, nguyên hoặc có răng cưa tròn, gân lá rõ [29]. Cụm hoa mọc ở đầu cành thành bông dày đặc, dài 1,5 - 3 cm, tổng bao gồm những lá bắc dạng lá, hình tim, đầu nhọn, mép nguyên, có lông thô dạng mi; đài có 5 răng không đều, 3 răng ngoài rộng, 2 răng trong hẹp; tràng có ống hình trụ chia 2 môi, môi trên bằng đầu, chia đôi, môi dưới dài bằng môi trên chia 3 thùy gần bằng nhau; nhị có 1 ô; bầu nhẵn.Quả nang, hình trứng thuôn, thắt lại ở đầu, nằm gọn trong đài tồn tại [29]. Cây mang hoa của Nhân trần tía. Cây mang hoa.
Đặc điểm hình thái của A. 7 Cây mọc vào tháng 5 (mùa mưa) ra hoa tháng 10 đến tháng 1 năm sau, tàn lụi tháng 1 - 2. Hạt từ nang rụng xuống, mùa mưa lại mọc lên [18]. Dược liệu có mùi thơm nồng, vị cay mát và hơi đắng [17].
Thân (1) và hoa khô (2) của Nhân trần tía. Phân bố, sinh thái và thu hái Trong số 3 loài thuộc chi Adenosma được sử dụng làm thuốc ở Việt Nam, loài Nhân trần tía có phạm vi phân bố hạn chế [29]. Nhân trần tía chỉ gặp vào thời gian từ giữa mùa mưa đến đầu mùa khô hàng năm. Cây ưa sáng, ưa ẩm và có thể chịu được khô hạn sau khi đã ra hoa, kết quả.
Cây thường mọc thành đám có khi tới hàng ngàn mét vuông trên những bãi đất bằng dưới chân đồi, trong thung lũng hay những đám ruộng cao mới bỏ hoang. Nơi mọc thường là đất pha cát và hơi chua. Ở những nơi đất bị rửa trôi mạnh, nghèo dinh dưỡng, cây cao không quá 15 cm đã thấy có hoa quả. Sau khi quả già, toàn cây tàn lụi.
với loài Bồ bồ và Nhân trần, Nhân trần tía có vòng đời ngắn hơn, chỉ tồn tại 3,5-4 tháng, mức độ khai thác và sử dụng cũng ít hơn [29]. Thu hái lúc cây đang ra hoa, phơi hay sấy ở 40 – 50οC đến khô. Bộ phận dùng thường là: thân, cành mang lá, hoa đã phơi hay sấy khô [29] 8 1. THÀNH PHẦN HÓA HỌC 1.
Tinh dầu Nhân trần tía có 0,25% tinh dầu, màu vàng, tỉ trọng 0,890, chỉ số khúc xạ 1,496. Bằng kỹ thuật sắc ký khí, cho thấy tinh dầu Nhân trần tía có cineol 18% [18], carvacrol (A) 34,0%, methyl carvacrol (B) 18,9% và -bisabolen (C) 16,7% [33]. Khảo sát Nhân trần tía khi cây đang ra hoa (tháng 11, 12) ở Tây Ninh, tinh dầu có hàm lượng 0,6%. Tinh dầu màu vàng nhạt, mùi cay nồng, thoảng mùi ascaridol.
Ba thành phần chính trong tinh dầu được xác định là: - Carvacrol M = 150 Hàm lượng: 27% - Carvacrol methyl ether M = 164 Hàm lượng: 28% - β-bisabolen M = 204 Hàm lượng: 30,4% Trong đó, carvacrol là chất có tác dụng diệt khuẩn đứng hàng đầu trong những hợp chất của tinh dầu [34]. Ngoài ra trong tinh dầu của Nhân trần tía còn có các thành phần: -terpinen, caryophyllen, humulen, carvacrol metyl ether, carvacrol, -bisabolen. Dựa vào phương pháp định tính điểm chỉ bằng GC và HPLC có thể phân biệt được nguồn gốc Nhân trần tía trong cùng loài [23]. Cấu tạo hóa học của một số hợp chất trong tinh dầu Nhân trần tía.
Flavonoid Năm 1999, Nguyễn Minh Đức và cộng sự đã phân lập được Scutellarin [13]. Các nghiên cứu gần đây cũng đã phân lập được một số flavonoid đa phần có khung cơ bản là flavon và flavon 8-O-glycosid. HOOC OH O HO HO O O OH HO OH O Scutellarin [12] 3' 2' 4' OH R1 1 H3CO 8 O 7 2 5' 6' R3 6 4 3 H3CO 5 R2 O Hợp chất hóa học R1 R2 R3 8, 4′-dihydroxy-6, 7, 3′-trimethoxy-flavon [14] OH H OCH3 Cirsilinenol [19] H OH OCH3 5,4′-dihydroxy-6,7,8,3′-tetramethoxy flavon [10] OCH3 OH OCH3 5,4′-dihydroxy-6,7,8,-trimethoxy flavon [10] OCH3 OH H 5'' 1'' R1 OH 3'' O 3' 4'' 2'' OH O 2' 4' OH R2 1 8 OH 7 O 2 5' 6' 6 4 3 5 OH O Hợp chất hóa học R1 R2 4′, 5, 7-trihydroxy flavon-8-O-glucuronid-6′′-methyl ester [28] COOCH3 OH Isoscutellarein 8-O-β-glucopyranosid 3′′-methyl ether [1] CH2OH OCH3 Isoscutellarein 8-O-β-glucuropyranosid [9] COOH OH Isoscutellarein 8-O-β-glucopyranosid [10] CH2OH OH 10 HOOC OH O OH O OH HO O OH O O O HO O OH HO O HO COOH O OH Biflavon với cấu trúc Isoscutellarein 8-O-β-D-glucuropyranosid [25] Hình 1. Công thức hóa học một số flavonoid trong Nhân trần tía 1.
Các thành phần khác Ngoài thành phần tinh dầu và flavonoid Nhân trần tía còn có những thành phần khác như bracteosid A, bracteosid B, bracteosid C [13] và các hợp chất triterpenoid như stigmasterol (I), acid betulinic (K) và 3-O-β-D-glucopyranosid 6′-otyl sitoterol (L)[22]. 29 24 23 20 19 22 26 30 18 19 20 22 29 21 25 13 11 25 26 17 OH 11 17 28 27 28 13 1 9 1 15 9 O 2 14 8 3 5 27 7 3 HO 5 HO 24 23 I K H H H H HO O HO H H H H O Hình 1. Cấu trúc các hợp chấtLtriterpenoid trong Nhân trần tía. TÁC DỤNG VÀ CÔNG DỤNG CỦA NHÂN TRẦN TÍA 11 1.
Tác dụng sinh học 1. Tác dụng trên gan Bệnh viện Chợ Quán thành phố Hồ Chí Minh đã dùng Nhân trần tía chữa hơn 4000 trường hợp viêm gan virus có kết quả tốt, bệnh viện Y học dân tộc tỉnh Tây Ninh chữa xơ gan cổ trướng cho gần 100 bệnh nhân, thấy khỏi 24%, khá và tốt 46,6% [26]. Công thức phối hợp cao Diệp hạ châu (100 mg), cao Nhân trần tía (80 mg), cao Rau má (40 mg) và cao Nghệ (30 mg) ở liều 0,5-1g/kg không những ức chế sự tăng hàm lượng MDA ở các mô tế bào gan bị tổn thương mà còn làm giảm sự tăng hoạt độ các transaminase GOT và GPT trong tổn thương gan do CCl4 gây ra [12]. Năm 2006, Dương Thị Mộng Ngọc nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của cao phối hợp từ Nhân trần Tây Ninh và Đinh lăng.
Kết quả cho thấy ở cả 3 thử nghiệm gây tổn thương gan bằng ethanol, CCl4 và ethanol kết hợp với CCl4, cao phối hợp ở liều 0,58 g/kg thể trọng đều thể hiện tác động bảo vệ gan thông qua việc ức chế phản ứng peroxyd hoá lipid, làm giảm hàm lượng MDA [21].2 Tác dụng tăng tiết mật Thí nghiệm trên chuột lang thấy dịch chiết Nhân trần tía làm tăng tiết mật 24,7% so với lô đối chứng [30]. Tác dụng chống viêm Nhân trần tía chứa hàm lượng carvacrol rất cao (27%). Đây là một chất có tác dụng như chất ức chế COX-II, giống thuốc kháng viêm nonsteroid (ibuprofen) [36]. Năm 1975, khi nghiên cứu tác dụng dược lý của Nhân trần, Bồ bồ và Nhân trần tía đã kết luận: Nhân trần và Bồ bồ đều có tác dụng chống viêm trên cả 3 mô hình thử nghiệm (mô hình phủ kaolin, mô hình u hạt, mô hình teo tuyến ức) [18].4 Tác dụng chống oxy hoá Nhóm các tác giả thuộc đại học Shahid Beheshti của khoa y trường Đại học Tehran, Iran đã chứng minh thymol và carvarol có tác dụng nâng cao nhận thức trong hai mô hình chuột mất trí nhớ [31].
Năm 2010, một nghiên cứu sàng lọc hoạt tính chống oxy hoá của 56 dược liệu. Hoạt tính chống oxy hóa (in vitro) được đánh giá bằng bốn phương pháp: FRAP, MDA, sàng lọc khả năng loại gốc tự do DPPH và xác định khả năng ức chế enzym xanthin oxidase. So sánh với các dược liệu khác thì Nhân trần tía có các trị số rất cao ở cả bốn phương pháp thử nghiệm. Tác giả kết luận cao chiết Nhân trần tía có hoạt tính chống oxy hóa rất mạnh và là một trong những dược liệu có hoạt tính mạnh nhất so với 56 loài dược liệu nghiên cứu [15].5 Tác dụng kháng khuẩn Thành phần carvacrol trong tinh dầu Nhân trần tía đã được chứng minh có tác dụng kháng khuẩn mạnh [35].
Độc tính Toàn cây chặt nhỏ phơi khô, chiết cồn 40%, rồi cô cách thủy đến dịch đậm đặc.