CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi Adenosma và loài Adenosma cearuleum R. Tổng quan về chi Adenosma (Họ Scrophulariaceae) Chi Adenosma xuất phát từ chữ Hy Lạp Aden: tuyến và osmé: mùi thơm, hương thơm. Chi Adenosma có khoảng 15 loài phân bố ở khu vực Bắc Á, Đông Nam Á, Trung Quốc và quần đảo Thái Bình Dương [3], [13].
- Trung Quốc có bốn loài chính, phân bố tập trung ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Tây, Hải Nam, Quảng Đông, Vân Nam, Phúc Kiến, Giang Tây, Vân Nam, gồm: Adenosma glutinosum (Linn., Adenosma indianum (Lour., Adenosma retusilobum Tsoong [13]. - Ở Ấn Độ có ba loài chính gồm: Adenosma indianum (Lour., Adenosma malabaricum Hook. Brit, Adenosma bilabiatum (Roxb.) Merr, Adenosma caeruleum R. - Ở Australia có hai loài gồm: Adenosma caerulea R.
(Adenosma glutinosum), Adenosma muelleri Benth. - Ở Siri Lanca có một loài phân bố ở Pasdon Corle là: Adenosma subrepens Benth. Các nước Đông Nam Á là các nước có nhiều nhất và phân bố ở các quốc gia như sau: - Inđonesia có hai loài chính gồm: Adenosma caeruleum R. và Adenosma indianum (Lour.
- Philipin có ba loài gồm: Adenosma indianum (Lour. (Adenosma bilabiatum (Roxb. - Thái Lan có hai loài gồm: Adenosma caeruleum R. và Adenosma indiana (Lour.
- Lào có ba loài gồm: Adenosma glutinosum (L.) Druce, Adenosma bracteosa Bonati, Adenosma indiana (Lour. 5 - Campuchia có bốn loài gồm: Adenosma indiana (Lour., Adenosma bracteosa Bonati, Adenosma javanicum (Bl) Merr. - Mianma có hai loài gồm: Adenosma indiana (Lour., Adenosma ovatum (Benth. - Malaixia có một loài phân bố ở Malacca là Adenosma capitatum Benth.
- Singapo chỉ có một loài là Adenosma inopinatum Prain. - Việt Nam là quốc gia có sự phân bố của chi Adenosma nhiều nhất trong các nước châu Á, có bảy loài phân bố khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam, phổ biến nhất là 3 loài: Adenosma bracteosa Bonati, Adenosma indiana (Lour. và Adenosma caeruleum R. Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày tổng quan về một số loài thuộc chi Adenosma đã được nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học cũng như ứng dụng trong y học.
Đặc điểm thực vật loài Adenosma cearuleum R. Tên khoa học Tên khoa học: Adenosma cearuleum R. Giới : Thực vật Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Lamiales Họ: Hoa mõm chó (Scrophulariaceae) Chi: Adenosma Tên tiếng Việt: Nhân trần; Tuyến hương lam; Chè nội; Chè cát, Nhân trần Việt Nam. 6 Tên khác: Adenosma caeruleum var.
urticifolium Bonati, Adenosma caeruleum var. racemosum Bonati, Adenosma glutinosum (L.) Tsoong, Adenosma cordifolium Bonati,; 1. Đặc điểm thực vật và phân bố trong tự nhiên Hình 1. Thân, lá, hoa của loài Hình 1.
Bụi cây của loài Adenosma Adenosma caeruleum R. Hoa của loài Adenosma Hình 1. Hình vẽ mô tả của loài caeruleum R. Loài Adenosma cearuleum R.
là loài sống năm một. Cây thân cỏ cao từ 30 – 110 cm, thân tròn màu tím sẫm, trên thân có tuyến lông trắng mịn, cây có khả năng phân cành nhiều. Lá mọc đối, hình trứng, đầu lá dài, mép lá có răng cưa to, mặt trên và mặt dưới lá đều có nhiều lông mịn. Phiến lá dài từ 3 – 9 cm, 7 rộng từ 1 - 3,5 cm, có 7 đôi gân nổi rõ ở mặt dưới, cuống dài từ 5 - 10 mm.
Hoa màu tím, mọc đơn độc ở nách lá hay thành chùm ở đầu cành. Đài hình chuông xẻ thành năm thùy sâu. Tràng hình ống màu tím-xanh dài từ 10 -14 mm, môi trên hình lưỡi nhỏ, môi dưới xẻ thành 3 thùy đều nhau. Nhị dài 2 cm, bao phấn trước với 1 ngăn hữu thụ, bao phấn sau có 2 ngăn hữu thụ.
Bầu mang vòi nhụy có 2 thùy, vòi nhụy dài 2,2 cm. Quả nang hình trứng, dài bằng đài, nhiều hạt, hạt có hình tam giác, 1 mặt lõm. Khi chín quả có màu nâu và tự tách ra, hạt nhỏ màu nâu. Mùa hoa vào tháng 8 – 9.
Mùa quả vào tháng 9 – 10. [1], [2], [3], [5] Phân bố Loài Adenosma caeruleum R. là loài phát triển tốt ở nơi có khí hậu nhiệt đới như Ấn Độ, Xri Lanca, Nam Trung Quốc, Campuchia, Lào, Việt Nam, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia cho đến Ôxtrâylia.và là loài sống năm một. Ở Việt Nam, loài Adenosma cearuleum R.
mọc ở khắp nơi từ Yên Bái, Cao Bằng, Thái Nguyên vào tới Tây Ninh. Thời gian gieo hạt của loài Adenosma caeruleum R. bắt đầu từ cuối tháng 2 sang tháng 3 khi cây được 6 lá đem trồng, sau khi trồng 5 - 6 tháng cây bắt đầu ra hoa, kết hạt sau đó tàn lụi. Cây cũng có thể tái sinh nếu gặp điều kiện thuận lợi, gốc cây có thể sống qua đông đến mùa xuân năm sau xuất hiện các chồi mới.
Nhiệt độ từ 15 - 30oC là thích nghi cho cây sinh trưởng tốt, nhiệt độ dưới 150C cây phát triển kém. Là cây ưa sáng, không chịu được úng. Những cây Adenosma caeruleum R. mọc hoang dại trong rừng, độ khép tán của rừng quá lớn, quá râm thì cây Adenosma caeruleum R.
mọc rậm rạp, ít ra hoa kết quả, thậm chí không ra hoa kết quả. Còn cây Adenosma caeruleum R. mọc ở rìa rừng, ở đồi, ở ruộng, ánh sáng chiếu xuống tương đối nhiều, cây tuy thấp nhưng đậu quả rất nhiều. Loài Adenosma caeruleum R.
đòi hỏi nước rất nghiêm ngặt, lượng mưa hàng năm từ 1700 - 1800 mm, độ ẩm bình quân hàng năm trên 70% [1], [2]. 8 Loài Adenosma caeruleum R. không đòi hỏi đất đai tốt lắm, đất cát, đất thịt đều có thể trồng được, tốt nhất là đất pha cát thoát nước tốt, giàu mùn, tơi xốp, lớp đất dưới là đất thịt. Đất sét dễ úng nước, đất sỏi đá khô cằn, đất mặn,.
đều không nên trồng Adenosma caeruleum R. Loài Adenosma caeruleum R. trước đây mọc hoang, sau đó nhân dân đưa về trồng ở các tỉnh vùng trung du miền núi để khai thác các nguồn nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh, là thức uống bổ dưỡng có giá trị trong dân gian nhân dân gọi là trà nhân trần[1], [2]. Đặc điểm thực vật loài Adenosma indiana (Lour.
Tên khoa học Tên khoa học: Adenosma indiana (Lour. Tên Việt Nam: Chè đồng, Chè nội, Chè cát, Nhân trần, Nhân trần hoa đầu, Tuyến hương Ấn, Bồ bồ. Tên khác: Manulea indiana Lour.; Stemodia capitata Benth.; Pterostigma capitatum Benth.; Adenosma capitatum Benth. ex Hance; Adenosma capitatum var.
spicata Bonati; Erinus bilabiatus Roxb.; Adenosma bilabiatum (Roxb.; Adenosma buchneroides Bonati. Đặc điểm thực vật và phân bố trong tự nhiên Đặc điểm thực vật Hình 1. Hoa, thân, lá của loài Hình 1. Hình vẽ mô tả của loài Adenosma indiana (Lour.
Adenosma indiana (Lour. 9 Thân hình trụ, cành non mang nhiều lông về sau nhẵn, lúc đầu thân màu xanh sau chuyển sang màu tím nhạt, chiều cao cây 70 cm - 100 cm. Lá mọc đối, phiến lá hình mác, đầu nhọn, mép lá có răng cưa, gân lá hình lông chim, mặt trên mang nhiều lông hơn mặt dưới, chiều dài lá 5 cm - 8 cm, rộng lá 2 cm - 4 cm. Rễ thuộc loại rễ chùm, có nhiều lông tơ nhỏ màu trắng, rễ dài 10 - 18 cm.
Hoa nhỏ, màu tím, mọc tụ tập thành đầu nang, đài có lông với hai môi, môi trên nguyên, môi dưới xẻ bốn. Tràng cánh hợp với hai môi, môi trên xẻ bốn, môi dưới nguyên, bốn nhị có hai chiếc dài, hai chiếc ngắn. Quả thuộc loại quả nang nằm gọn trong đài hoa. Nhiều hạt nhỏ, hình trứng thuôn, có nhiều gai, màu cánh gián.
[3], [5] Phân bố Loài Adenosma indiana (Lour. phân bố chủ yếu ở Xri Lanca, Ấn Độ, Mianma, Nam Trung Quốc; ở Campuchia, Lào, Việt Nam, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia và Philippin. Loài Adenosma indiana (Lour.) Merr là loài sống năm một và phát triển tốt ở vùng khí hậu nhiệt đới. Nhiệt độ từ 25-35oC là thích nghi cho cây sinh trưởng tốt, nhiệt độ thấp cây phát triển kém.
Là loài ưa sáng, không chịu được rét, không chịu được úng. Loài Adenosma indiana (Lour. phát triển tốt ở điều kiện độ ẩm cao, độ ẩm bình quân hàng năm 80-85% và ở độ cao từ 100–800 m so với mực nước biển. Loài Adenosma indiana (Lour.
có phạm vi thích ứng về đất đaii cũng khá rộng. Nhưng cây phát triển tốt nhất là ở vùng đất pha cát thoát nước tốt, giàu mùn, tơi xốp, lớp đất dưới là đất thịt khi đó thân và lá của loài Adenosma indiana (Lour. Đất sét dễ úng nước, đất sỏi đá khô cằn, đất mặn,. cây đều sinh trưởng, phát triển kém cây thường cằn cỗi, thân và lá có màu tím.
Cuối tháng 2 sang đầu tháng 3 cây bắt đầu mọc, mùa hoa vào tháng 8- 9. Mùa quả vào tháng 9 – 10 sau đó tàn lụi. 10 Ở Việt Nam, loài Adenosma indiana (Lour. phân bố ở Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây vào tới Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương.
Loài này thường được thấy ở ruộng, các rừng thưa cây rụng lá, nơi trống có cát và cỏ, trong các đầm lầy và đất ẩm, từ độ cao 1200m so với mặt nước biển. Cây ra hoa kết quả từ tháng 4 - 10. Đặc điểm thực vật loài Adenosma bracteosa Bonati 1. Tên khoa học Tên khoa học: Adenosma bracteosa Bonati Tên Việt Nam: Nhân trần tía, Nhân trần Tây Ninh, nhân trần cái, chè cát, Nhân trần có lá bắc, tuyến hương lá hoa.
Đặc điểm thực vật và phân bố trong tự nhiên Đặc điểm thực vật Hình 1. Hoa, thân, lá của loài Adenosma bracteosa Bonati Cây thảo, cao 30 - 40cm. Thân hình trụ, phân cành từ gốc, phần ngọn có 4 cánh. Cành mọc tỏa ngang hay đứng thẳng.
Lá mọc đối, hình mác thuôn, dài khoảng 2cm, rộng 7mm, không cuống, gốc gần như ôm thân, nguyên hoặc có răng cưa tròn, gân lá rõ. Cụm hoa mọc ở đầu cành thành bông dày đặc, dài 1,5 - 3cm, tổng bao gồm những lá bắc dạng lá, hình tim, đầu nhọn, méo nguyên, có lông thô dạng 11 mi; đài có 5 răng không đều, 3 răng ngoài rộng, 2 răng trong hẹp; tràng có ống hình trụ chia hai môi, môi trên bằng đầu, chia đôi; môi dưới dài bằng môi trên chia 3 thùy gần bằng nhau; nhị có 1 ô, bầu nhẵn. Quả nang, hình trứng thuôn, thắt lại ở đầu, nằm gọn trong đài tồn tại. Mùa hoa quả: tháng 5 - 9.
[3], [5] Phân bố Loài Adenosma bracteosa Bonati có phạm vi phân bố hạn chế, chỉ phát hiện thấy ở vài tỉnh phía Nam như Tây Ninh, Bình Dương, khu vực Vũng Tàu, đảo Phú Quốc và Côn Đảo. Có tài liệu ghi nhận ở cả Kon Tum, Đắc Lắc. Cây cũng phân bố khá phổ biến ở Lào và Campuchia[1]. Loài Adenosma bracteosa Bonati chỉ gặp vào thời gian từ giữa mùa mưa đến đầu mùa khô hàng năm.
Cây ưa sáng, ưa ấm và có thể chịu được khô hạn sau khi đã ra hoa, kết quả. Cây thường mọc thành đám, có khi tới hàng ngàn mét vuông trên những bãi đất bằng dưới chân đồi, trong thung lũng hay những đám ruộng cao mới bỏ hoang.