Chương 1. Tổng quan tài liệu, 19 trang. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu, 07 trang. Thực nghiệm, 15 trang.
Kết quả và thảo luận, 83 trang. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về chi Aralia 1. Sơ lược về thực vật và sự phân bố Chi Aralia (Cuồng), thuộc họ Araliaceae (Nhân sâm), gồm khoảng 40 loại cây thân gỗ nhỏ và cây thân thảo, phân bố chủ yếu ở châu Á (như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) và một số ít ở Bắc Mỹ.
Tên Latin và sự phân bố của một số loài thuộc chi Aralia được liệt kê ở Bảng 1. Tên Latin, loại cây và sự phân bố của một số loài thuộc chi Aralia. STT Tên Latinh Loại cây Phân bố Tài liệu tham khảo 1 A.) Cây thân gỗ Trung Quốc, Hàn Quốc, [117] Seem. Nhật Bản, Nga 2 A.
Cây thân gỗ Việt Nam, Trung Quốc [31] 3 A. Cây thân thảo Trung Quốc, Hàn Quốc, [13] Nhật Bản 4 A. decaisneana Cây thân gỗ Trung Quốc, Việt Nam [86] Hance. ex Cây thân gỗ Việt Nam, Trung Quốc, [124] G.
Ấn Độ, Myanmar, Malaysia 6 A. Cây thân gỗ Trung Quốc [124] 7 A. Cây thân gỗ Việt Nam, Trung Quốc, [124] Indonesia, Malaysia 8 A. continentalis Cây thân thảo Trung Quốc, Hàn Quốc, [51] Kitag.
Nhật Bản, Nga 9 A. echinocaulis Cây thân gỗ Trung Quốc [124] Hand. Cây thân gỗ Trung Quốc [120] Wang & H. Cây thân thảo Trung Quốc [83] 12 A.- Cây thân gỗ Việt Nam, Trung Quốc [124] Mazz.
Melanocarpa Cây thân thảo Trung Quốc [43] 6 1. Công dụng làm thuốc trong dân gian Lá, rễ, thân của các loài cây thuộc chi Aralia thường được sử dụng làm thuốc trị bệnh trong dân gian. Những bài thuốc dân gian đã mang lại hiệu quả đáng kể trong việc chữa trị đau khớp, chống viêm, đau nhức toàn thân, chữa một số bệnh liên quan đến các cơ quan nội tạng. Một số công dụng làm thuốc của các loài thuộc chi Aralia được liệt kê ở Bảng 1.
Một số công dụng của các loài thuộc chi Aralia trong việc chữa bệnh theo phương thức truyền thống. STT Loài Bộ phận Công dụng chữa bệnh Tài liệu sử dụng tham khảo 1 A. Rễ, lá Đau vùng thượng vị, đau [82] răng, phù nề, kiết lỵ 2 A. Rễ, vỏ, lá Đau vùng thượng vị, phù [47] nề, kiết lỵ, mệt mỏi, mất ngủ, liệt dương do thận hư 3 A.
Rễ Đau nửa đầu, [13] nhức đầu, đau răng 4 A. Rễ Nhức đầu, đau răng [82] 5 A. echinocaulis Rễ Đau vùng thượng vị, thoát [82] Hand. vị đĩa đệm, rắn cắn, băng huyết 6 A.
Rễ Nhức đầu, băng huyết, rắn [82] cắn, nôn ra máu 7 A. Rễ, lá Cảm lạnh, đau vùng [82] thượng vị, đau họng, đau răng, vàng da, phù nề, vô kinh, bệnh bạch cầu 8 A. Rễ Đau dạ dày, đau đầu, [124] Don) Seem. viêm họng, vàng da, kiết lỵ, bệnh bạch cầu 9 A.
Rễ Đau vùng thượng vị, phù [124] nề, vàng da, ho 10 A. Rễ, lá Phù nề [124] Wang and H. Rễ Đau đầu, chóng mặt, bệnh [82] Z. đậu mùa ở trẻ em Zheng.
Rễ Đau vùng thượng vị, vô [124] kinh, đau bụng kinh 7 1. Thành phần hóa học của chi Aralia Các hợp chất chính của chi Aralia bao gồm triterpenoid saponin, terpenoid, acid hữu cơ và ester của chúng, flavonoid, polyacetylene, phenyl propanoid, polysaccharide và những hợp chất khác. Triterpenoid saponin và terpenoid là hai loại chủ yếu có hàm lượng cao ở các loài thuộc chi Aralia [124]. Triterpenoid saponin Một số lượng lớn các nghiên cứu đã chỉ ra rằng triterpenoid saponin là một trong những thành phần chính có hiệu quả để phát huy các hoạt tính dược lý của các loài thuộc chi Aralia.
Hiện tại, có hơn 100 saponin đã được phân lập từ các bộ phận khác nhau của chi Aralia như rễ, thân và lá. Các saponin trong chi Aralia chủ yếu là pentacyclic triterpenoid. Saponin được chia thành 05 loại: oleanolic acid (1), hederagenin (2), echinocystic acid (3), caulophyllogenin (4) và ursolic acid (5) (Hình 1.1); trong đó, hai loại phổ biến nhất là oleanolic acid và hederagenin [124]. Một số cấu trúc hóa học của hợp chất triterpenoid saponin được phân lập từ chi Aralia.
Terpenoid Các terpenoid trong chi Aralia chủ yếu được chia thành các diterpenoid và triterpenoid. Diterpenoid thường xuất hiện trong cây thân thảo. Kaurenoic acid (ent- kaur-16-en-19-oic-acid) (6) và continentalic acid (ent-pimara-8 (14),15-diene-19- oic acid (7) là hai diterpenoid chính trong chi Aralia, lần đầu tiên được phân lập từ 8 loài A. Hầu hết các terpenoid trong cây thân gỗ của Aralia là triterpenoid, ví dụ như oleanolic acid.
Ngoài ra, monoterpene glycoside hai vòng, (2R,6S)-borane-2,6-diol 2-O-β-D-apiofuranosyl-(1→6)- glucopyranoside (8) (Hình 1.2) được phân lập từ A. chinensis lần đầu tiên được báo cáo bởi Pham và cộng sự [127]. Một số terpenoid được phân lập từ chi Aralia. Acid hữu cơ và ester Các acid hữu cơ được phân lập từ chi Aralia chủ yếu là acid béo chuỗi dài, phenolic acid và ester của chúng.
Acid béo chuỗi dài bao gồm palmitic acid, ctacosanoic acid, melissic acid và α-mono palmitin (9 – 12). Phenolic acid chứa succinic acid, caffeic acid, ethyl caffeate (13 - 15) và những chất khác (Hình 1. Một số acid hữu cơ và ester của chúng được phân lập từ chi Aralia. Flavonoid Hầu hết các flavonoid trong chi Aralia kết hợp với monosaccharide để tạo thành glycoside, và một số ít tồn tại ở dạng tự do, chủ yếu bao gồm quercetin, kaempferol và glycoside của chúng (16 – 18) (Hình 1.
Một số flavonoid được phân lập từ chi Aralia. Polyacetylene Polyacetylene là một loại hợp chất tự nhiên đặc biệt, hầu hết trong số đó có hai hoặc nhiều liên kết ba liên hợp và có hoạt tính và độ không bão hòa cao. Bốn polyacetylene là falcarindiol (19), dehydrofalcarindiol (20), dehydrofalcarin-diol-8- acetate (21) và falcarindiol-8-acetate (22) đã được phân lập từ rễ của A. Một số polyacetylene được phân lập từ chi Aralia.
Phenyl propanoid 10 Các phenyl propanoid được phân lập từ chi Aralia chủ yếu bao gồm ba loại: phenylpropanol glycoside, coumarin, lignin. Có bốn coumarin trong rễ và thân của loài A. fargesii, bao gồm umbelliferone (23), esculetin (24), scopoletin (25) và scoparone (26) [94]. Syringin (27), syringaresinol (28) và aralialignan (29) được phân lập từ rễ của loài A.
Acathoside D (30), còn được gọi là liriodendrin, được phân lập từ rễ của loài A. HO HO O O OH HO O OH O (27) (28) (29) (30) Hình 1. Một số phenyl propanoid được phân lập từ chi Aralia. Polysaccharide Trong những năm gần đây, polysaccharide thực vật đã thu hút nhiều sự chú ý vì hoạt tính sinh học cao và độc tính thấp của chúng.
Có rất ít nghiên cứu về polysaccharide từ chi Aralia. Hiện nay, một số ít polysaccharide đã được phân lập từ loài A. Năm 2020, Xia và cộng sự đã thu được polysaccharide loại pectin (AER-A3) từ vỏ rễ của loài A. elata bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu suất cực cao - điện phổ khối (UPLC-ESI-MS), bao gồm GalA, Rha, Glc và Ara [130].
Hai polysaccharide pectic giàu arabinose và galactose, AELP-B5 và B6, thu được từ lá của loài A. Một số polysaccharide được phân lập từ chi Aralia được liệt kê ở Bảng 1. Một số polysaccharide được phân lập từ chi Aralia. 11 TT Polysaccharide Khối Thành phần monosaccharide Bộ Tài lượng phận liệu phân chiết tham tử tách khảo 1 AEP-1 69 Glc:Gal:Ara Lá [77] 6,0:3,0:1,0 2 AEP-W1 45 Ara:Gal:Glc Rễ [138] 6,3:3,5:0,2 3 AER-A3 112 GalA:Gal:Glc:Man:Ara:Rha Rễ [130] 24,6:19,7:16,9:11,4:9,1 4 AERP 42,7– Ara:Rha:GlcA:Man:Glc:Gal Rễ [122] 93,9 22,2:10,3:8,1:32,7:5,7:21,2 5 ELP-B5 42,5 Ara:Rha:Glc:Gal:Man:GalA Lá [103] 27,7:15,4:5,7:27,4:2,1,21,7 6 AELP-B6 15,6 Ara:Rha:Glc:Gal:Man:GlcA:GalA 19,4:12,7:3,1:18,6:2,0:5,5,38,7 7 ACP 525,9 Ara:Glc:Gal Rễ [115] 4,67:76,44:18,18 8 ACKP - GalA:Glc:Gal:Ara Rễ [23] 46,9:16,7:15,1:12,9 e.
Hợp chất khác Ngoài các hợp chất trên, các loài của chi Aralia còn chứa sterol. chinensis chứa β-sitosterol (31) và stigmasterol (32) [49, 60]. Daucosterol (33), một saponin steroid, được phân lập từ vỏ rễ của A. Adenosine (34) thu được từ A.
Ngoài ra, hai hợp chất mới, decahydrocyclopenta[a] indene analog (35) và decahydrofluorene analog (36), được phân lập từ A. Coniferaldehyde (37) và saccharose (38) được tách ra từ loài A. Trans-communol (39) được tách ra từ loài A. Aracordatylene (40) cùng với cis-communol (41) được thu nhận từ loài A.
Cấu trúc của các hợp chất được thể hiện ở Hình 1. Cấu trúc một số hợp chất được phân lập từ chi Aralia. Các loài cây từ chi Aralia cũng chứa các hợp chất dễ bay hơi, acid amine và các thành phần khác. Ba mươi bảy loại hợp chất tinh dầu khác nhau được phân lập từ rễ của loài A.
elata, trong đó, α-curcumene có hàm lượng cao nhất (15,32 %) [116]. Hai mươi mốt hợp chất tinh dầu đã được phân lập từ rễ của loài A. dasyphylla, chủ yếu là monoterpene và sesquiterpene, chẳng hạn như eucalyptone, hexadecanoic acid, 3-decyne, α-caryophyllene [146]. Thành phần chính của tinh dầu loài A.
spinose là sesquiterpene và oxide của chúng [11]. Tinh dầu từ rễ loài A. continentalis có thành phần chính là α-pinene [140]. Chi Aralia cũng chứa nhiều loại aspartic acid, serine, proline, glutamic acid, alanine, histidine và arginine [123].
Hoạt tính sinh học của các loài thuộc chi Aralia Các nghiên cứu dược lý đã chỉ ra rằng các chiết xuất và hợp chất khác nhau được phân lập từ các bộ phận khác nhau từ chi Aralia có nhiều hoạt tính sinh học, bao gồm chống viêm, giảm đau, chống khối u, bảo vệ gan, bảo vệ hệ thống tim mạch và thần kinh, chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng virus. Trong đó saponin 13 và diterpenoid đã được nghiên cứu sâu trong việc chống viêm, chống khối u và bảo vệ gan. Mối quan hệ giữa cấu trúc hóa học và hoạt tính sinh học cho thấy hoạt tính của triterpenoid saponin có mối liên quan chặt chẽ với vị trí của các nhóm glycosyl được nối trên vòng aglycone [133]. Hoạt động dược lý của diterpene liên quan đến nhóm ketone ở vị trí C-7, nhóm carboxyl ở vị trí C-19 hoặc C-18 [13, 44].
Hoạt tính chống viêm Các triterpenoid saponin và terpenoid có tác dụng điều trị chống viêm rất tốt. Hai triterpenoid saponin trong loài A. elata là elatoside F và oleanolic acid 3- O-β-D-glucopyranosyl(1→3)-α-L-rhamnopyranosyl (1→2)-α-L-arabinopyranoside thể hiện rõ điều này [62, 108]. Kaurenoic acid từ loài A.
continentalis có thể tham gia vào hoạt động điều chỉnh viêm, giảm sưng ở chuột [15]. Thật thú vị, một nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng Kaurenoic acid từ loài A. continentalis không thể ức chế các chất trung gian gây viêm như NO, COX-2 mà chống viêm bằng các kích hoạt một yếu tố trung gian khác [79]. Continentalic acid được phân lập từ loài A.
cordata có thể ức chế các chất trung gian gây viêm để tạo ra hoạt tính chống viêm [47]. Các hợp chất 7-oxo-ent-pimara-8 (14), 15-dien-19-oic acid từ loài A. cordata cho thấy khả năng chống viêm bằng cách ức chế tính thấm của mao mạch, hoạt động của COX và giải phóng histamine [55]. Một số chiết xuất từ vỏ rễ loài A.
continentalis cũng thể hiện hoạt tính chống viêm hiệu quả [74, 107]. Hoạt tính giảm đau Các nghiên cứu chỉ ra rằng các diterpenoid từ loài A. cordata cũng ức chế đáng kể cảm giác đau quằn quại do phenylquinone gây ra ở chuột [55].