MỞ ĐẦU Từ ngàn xưa, con người đã biết sử dụng các cây cỏ có trong tự nhiên để làm thuốc chữa bệnh, nhờ vậy mà người ta đã thoát khỏi nhiều bệnh tật, kể cả các bệnh hiểm nghèo. Cây thuốc đóng vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống sức khỏe của con người. Ngày nay, với sự ra đời và phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghệ tổng hợp hóa dược đã phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều biệt dược khác nhau nhằm phục vụ cho công tác phòng, chữa bệnh. Tuy nhiên, việc dùng thuốc nam để chữa bệnh vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền y học.
Hiện nay, nhiều nước ở trên thế giới đang nghiên cứu các dược liệu trong thiên nhiên để sản xuất ra nhiều loại thuốc có hiệu lực cao góp phần cải thiện và nâng cao sức khỏe cho con người. Ở nước ta, rất nhiều các dược phẩm có nguồn gốc thảo dược đã được nhiều người ưa chuộng bởi nó đem lại hiệu quả trị bệnh cao và hầu như không gây ra các tác dụng phụ. Xu hướng của thế giới hiện nay vẫn là đẩy mạnh nghiên cứu hóa học thực vật mà đối tượng được ưu tiên là những cây đã được sử dụng theo kinh nghiệm dân gian. Những nghiên cứu ấy đã làm phong phú thêm kho tàng dược liệu của nhân loại, cung cấp nguyên liệu trực tiếp, gián tiếp cho ngành công nghiệp dược phẩm.
Ngoài ra những nghiên cứu này còn cung cấp những chất dẫn đường cho công nghiệp bán tổng hợp nhằm tìm ra các dược phẩm mới đáp ứng yêu cầu chữa các bệnh thông thường như cảm cúm, đến các bệnh nan y như ung thư, HIV… Nghiên cứu cây thuốc dân gian đã giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thành phần hóa học, cấu trúc phân tử, hoạt tính sinh học và tác dụng dược lý của các cây thuốc. Từ những nghiên cứu cơ bản ấy, người ta có thể tạo ra các chất mới có hoạt tính sinh học cao hơn, ít tác động phụ hơn để làm thuốc chữa bệnh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 2 Cây sổ có tên khoa học là Dillenia indica Linn. Từ rất lâu, quả của cây sổ đã được con người sử dụng để làm thức ăn, làm mứt.
Lá để chữa bệnh sỏi thận, sốt, phù thũng, đầy bụng, ho, sốt rét, cảm cúm, thuốc nhuận tràng, tiêu chảy, chống viêm nhiễm. Gần đây, người ta dùng vỏ cây sổ, phơi khô, sắc nước uống thay trà, kết quả sau vài chục ngày sỏi thận được tiêu hết. Đồng bào miền núi ở huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang cũng sấy khô vỏ cây sổ để pha nước uống thay trà thấy sỏi bàng quang, sỏi tuyến tiền liệt cũng tự hết mà không cần phải giải phẫu. Rõ ràng nước sắc từ vỏ cây sổ đã có tác dụng tốt với người bị sỏi thận, sỏi bàng quang.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu hóa học nào với đối tượng này. Từ những lý do trên, chúng tôi chọn vỏ cây sổ làm đối tượng nghiên cứu với tên đề tài là “Nghiên cứu thành phần hóa học vỏ cây sổ (Dillenia indica) ở Tuyên Quang”. Nhằm xác định rõ cấu trúc của một số hợp chất có trong vỏ cây sổ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN CÁC THỰC VẬT CHI DILLENIA VÀ THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA NÓ 1. Khái quát về các thực vật chi Dillenia Các thực vật chi Dillenia thuộc họ sổ (Dilleniaceae) có khoảng 100 loài [23], thường gặp ở các vùng Nhiệt đới, Cận nhiệt đới, ở miền nam châu Á, Australasia và Đông Nam Á. Chi này được đặt tên theo tên nhà thực vật học người Đức Johann Jacob Dillenius. Chi Dillenia bao gồm các cây dạng thân gỗ và cây bụi.
Theo Võ Văn Chi ở Việt Nam chi Dillenia có 9 loài trong hệ thực vật nước ta [1]. Có nhiều loài cây thuộc chi Dillenia được sử dụng trong y học dân gian nhiều dân tộc, ở các nước thuộc Châu Đại Dương, Châu Á và Đông Nam Á. Ở Ấn Độ, người ta thường sử dụng quả từ loài Dillenia indica để ăn, làm nước giải khát hay làm mứt. Tất cả các bộ phận của cây Dillenia indica đều được dân gian sử dụng trong y học cổ truyền dùng làm thuốc chữa nhiều loại bệnh khác nhau.
Phần lá cây Dillenia indica dùng để chữa bệnh sốt, phù thũng, đầy bụng, ho. Còn bộ phận vỏ và rễ dùng điều trị bệnh sỏi thận, sốt rét, cảm cúm [25]. Phần quả của loài Dillenia indica ở Ấn Độ và Philippin được dùng ngay ở dạng quả tươi chín, dùng để làm bánh, nước sốt, làm mứt hay chế tạo nước ép quả, làm siro hoặc tạo thành bột để chế biến ra nước uống giải khát cho hương vị tươi mát. Phần lá được dùng đun nước gội đầu làm cho tóc đen và ngăn rụng tóc.
Phía tây Bihar, vùng Himalaya, Assum, Bengal, miền tây và nam Ấn Độ từ Sylhet đến Srilanka, các bộ phận lá, vỏ và quả của cây D. indica được Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 sử dụng để sản xuất nước giải khát. Năm 1908 Burkill và Basu, ở Malaysia đã nghiên cứu lá và quả của Dillenia indica Linn. Quả của Dillenia indica Linn có tới 86,4% nước, 10% chất xơ và các chất như axit malic, tanin, đường, chất béo.
Theo Burkill và Basu quả là nguyên liệu sản xuất món cà ri, nước giải khát và có thể dùng hàng ngày. Lá và vỏ được sử dụng để sản xuất các sản phẩm dưỡng tóc. Cũng theo Burkill và Basu, trong y học vỏ và quả được sử dụng làm thuốc nhuận tràng, tiêu chảy, chống viêm nhiễm [30]. Ở Ấn Độ, nước sắc từ quả hay ép từ quả chín được dùng trong những trường hợp hạ sốt, bí tiểu và chữa các bệnh ngoài da ở vùng da đầu [26].
Những nghiên cứu hoá thực vật về chi Dillenia Cho đến nay đã có nhiều loài thực vật chi Dillenia được chọn làm đối tượng nghiên cứu hoá thực vật. Người ta đã phân lập và nhận dạng được 37 chất thuộc các nhóm chất khác nhau như tritecpenoit, flavonoit, chalcon…[6], [11]. Các hợp chất tritecpenoit Năm 1995 Andre Nick, Anthony D. Wright, Topul Rali and Otto Sticher nghiên cứu lá và thân của Dillenia papuana và đã phân lập được một số chất thuộc hai kiểu khung olean và lupan [6], [9], [11].
Tritecpen khung oleanan Từ thực vật Dillenia papuana người ta đã tách được 7 hợp chất thuộc nhóm tritecpen. Sau khi phân tích các tính chất đặc trưng hóa học, lý học và tính chất quang phổ của chúng, các tác giả đã đề nghị 7 hợp chất phân lập được từ thực vật Dillenia papuana đều thuộc nhóm tritecpen có khung cacbon kiểu olean với các nhóm chức và vị trí gắn các nhóm chức khác nhau (xem bảng 1. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Một số hợp chất khung olean phân lập được từ chi Dillenia.
Vị trí nhóm thế Tài Ký Nguồn Tên chất liệu R1 R2 R3 R4 R5 hiệu thực vật dẫn 1,3-Dihydroxy-12- D. oleanen-30-oic acid; OH H OH COOH H 1. oleanen-30-oic acid; H H OH COOH H 1.2 [6] papuana 3 -form, 3-Ketone 2-Hydroxy-3-oxo-12- D. oleanen-30-oic acid; H OH O COOH H 1.3 [6] papuana 2 -form 3-Hydroxy-2-oxo-12- D.
oleanen-30-oic acid; H O OH COOH H 1.4 [6] 3 -form papuana 3-Oxo-1,12- D. oleanadien-30-oic acid H H O COOH H 1.5 [6] papuana 2-Oxo-2,3-seco-12- D. oleanene-3,30-dioic H O COOH COOH H 1.6 [6] acid; 3-Me ester papuana 1 -Hydroxy-3-oxo- D. 12-oleanen-30-oic OH H O COOH H 1.7 [11] papuana acid; 3 -form Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.
Tritecpen khung lupan Từ thực vật Dillenia indica đến năm 2009, các nhà khoa học Ấn Độ đã phân lập được các tritecpen có bộ khung lupan (xem bảng 1. Một số hợp chất khung lupan phân lập được từ Dillenia indica. Vị trí nhóm thế Ký Nguồn Tài Tên chất liệu R1 R2 R3 hiệu thực vật dẫn lupeol H H2C CH3 H 2. indica L [22] 3-Hydroxy-12- oleanen-30-oic acid; H H2C CH3 CHO 2.
indica L [22] 3 -form, 3-Ketone 3-Hiđroxy-lup-20(30)- H H2C CH3 COOH 2. indica L [22] en-28-oic 3,13-Dihydroxy-28- OH H3C CH3 COOH 2. indica L [11] lupanoic acid CH2O 20(29)-Lupene-3,28-diol. indica L [11] H Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 Năm 1980, các tác giả Kamala P.
Sravastava và Santosh K. Srivastava đã nghiên cứu thân của Dillenia pentagyna và tách được chất -L-rhamnopyranosyl-3 -hydroxy-lup-20(29)-en-28- oic acid [17]. CH2 H3C COOH H O O OH MeOH H H H H OH OH -L-rhamnopyranosyl-3 -hydroxy-lup-20(29)-en-28-oic acid. Các flavonoit Trong nhiều nghiên cứu trước đây, các tác giả đã phân lập được nhiều flavonoit khác nhau (xem bảng 1.
HO O OH R1 R2 OH O Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.3: Một số hợp chất flavonoit Vị trí Tài Ký Nguồn Tên chất liệu R1 R2 hiệu thực vật dẫn 3,3',4',5,7-Pentahydroxyflavanone; (2R,3R)-form, 3'-Me ether OH OH 3. indica [11] dimethylflavone 3,4',5,7-Tetrahydroxyflavanone; OH H 3. indica [11] (2R,3R)-form Từ loài Dillenia indica người ta còn phân lập được một flavonoit có chứa nhóm chức ete. HO O OMe OH OMe OH O 3,5,7-Trihydroxy-3',4'-dimethoxyflavone [11] (3.3) Ngoài ra người ta còn xác định được một vài flavolnoit dưới dạng glycozit [11].
R1O O OR2 OH O Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.4: Một số hợp chất flavonoit có chứa gốc đường Vị trí Tài Ký Nguồn thực Tên chất liệu hiệu vật R1 R2 dẫn 4',5,7- HO Trihydroxyflavano O ne; (S)-form, 7-O- HO [ -D- O O OH D.1 [11] pentagyna (1 4)- -D- HO OH glucopyranoside] OH 4',5,7- Trihydroxyflavano HO O ne; (S)-form, 4'-O- [ -D- HO OH Glucopyranosyl- D.3) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.C Bate-Smit và J. Harborne ở viện sinh lý học động vật Mỹ nghiên cứu lá khô và lá tươi của Dillenia indica Linn đã tìm được hợp chất kemferol 4‟-metyl ete, kemferol 7,3-diglucozit và naringenin [13]. HO O OCH3 OH OH O Kemferol 4‟-metyl ete.4) CH2OH OH H O O O OH H H H H OH OH CH2OH O O H OH OH O H H H H OH OH Kemferol 3,7-diglucozit.5) HO O OH OH O Naringenin (5,7-dihidroxy-2-(4-hydroxyphenyl) chroman-4-one) [13].6) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 Năm 1975, Gowsala Pavanasasivam và M. SultanbaWa ở Srilanka nghiên cứu quả của Dillenia indica Linn đã phân lập được một số flavonoit như kemferol, 4‟-OMe kemferol, 3‟,4‟-Di-O-metylquercetin, 3‟- Ometylquercetin, axit Gallic, Sitosterol [14].
OCH3 HO O OCH3 OH OH O ‟ ‟ 3 ,4 -Di-O-metylquercetin OCH3 (4.7) HO O COOH OH OH OH O HO OH OH 3‟-Ometylquercetin axit Gallic (4.9) Tác giả Nilima Banerji, Pronabesh Majumder và Narendra L. Dutta đã phân lập được các hợp chất myricetin, betulin, lupeol, axit betulinic và sitosterol từ vỏ và lá cây Dillenia indica [24].