MỞ ĐẦU Cho tới nay, cây dƣợc liệu vẫn đóng một vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ con ngƣời. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) hiện có khoảng 80% dân số thế giới vẫn tin dùng các thuốc có nguồn gốc tự nhiên, trong đó chủ yếu từ thực vật [1]. Trên thế giới, từ các thảo dƣợc các nhà khoa học đã tìm ra nhiều loại thuốc mới có hoạt tính cao và đƣợc sử dụng rộng rãi trong việc điều trị bệnh. Ví dụ nổi bật là việc phát hiện ra hai hoạt chất Vinblastine và Vincristine từ cây Dừa cạn (Catharanthus roseus (L.
Don), họ Trúc đào (Apocynaceae) và Taxol từ cây Thông đỏ (Taxus brevifolia), họ Thông (Pinaceae). Cùng với các dẫn xuất bán tổng hợp nhƣ Taxotere từ 10- deacetyl bacatin III, hay gần đây hoạt chất Vinflunine từ Vinorelbine cũng đã chính thức đƣợc sử dụng để điều trị cho bệnh nhân ung thƣ. Việt Nam là quốc gia nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có hệ thực vật vô cùng phong phú và đa dạng. Trong số này, nguồn tài nguyên cây làm thuốc chiếm khoảng 30%.
Trong những năm gần đây, rất nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc của hệ thực vật Việt nam đã đƣợc thực hiện và đã có những đóng góp quan trọng vào việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng. Những loài thực vật có tác dụng chữa bệnh là nguồn dƣợc liệu quý giá bởi chúng có khả năng chữa bệnh cho con ngƣời và để lại ít tác dụng phụ hơn các thuốc có nguồn gốc tổng hợp. Ngày nay, với mối hiểm họa về tình trạng gia tăng bệnh tật đặc biệt là các bệnh hiểm nghèo nhƣ ung thƣ, tim mạch…thì việc nghiên cứu tác dụng làm thuốc của các loài thực vật mang tính ý nghĩa khoa học và thời sự [2]. Cây An xoa đã đƣợc nhắc đến trong danh mục Thực vật chí ở Việt Nam và trên thế giới, dùng để chữa nhiều bệnh khác nhau nhƣ cảm cúm, sởi, ung nhọt, kiết lỵ, trong đó có tác dụng với các bệnh về gan.
Ở nƣớc ta, cây mọc nhiều ở Bình Phƣớc, ven các sông suối, ngoài ra còn tìm thấy ở Lâm Đồng và các tỉnh miền núi phía Bắc. Theo y học cổ truyền, từ xa xƣa, cây An xoa đƣợc xem nhƣ là một bài thuốc gia truyền hỗ trợ điều trị xơ gan của ngƣời dân tộc thiểu số Camphuchia. Tuy nhiên, các nghiên cứu về thành phần hóa học hoàn luan an 2 chỉnh và tác dụng dƣợc lý của cây An Xoa ở Việt Nam và trên thế giới vẫn còn rất hạn chế. Chính vì thế, chúng tôi đề xuất đề tài luận văn: “Phân tích cấu trúc một số hợp chất trong cây An xoa (Helicteres hirsuta L.) ở Việt Nam bằng các phƣơng pháp hóa lý hiện đại” với mục tiêu nghiên cứu thành phần hóa học trong cây An xoa nhằm làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng cây thuốc một cách hợp lý và hiệu quả.
*Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu thành phần hóa học của thân cây An xoa (Helicteres hirsuta L.) thu hái ở Việt Nam *Nội dung nghiên cứu: - Thu hái mẫu cây An xoa tại Thừa Thiên, Huế. - Phân lập các hợp chất tử thân cây An xoa bằng các phƣơng pháp sắc ký. - Xác định cấu trúc hóa học của các chất phân lập đƣợc bằng các phƣơng pháp phổ hiện đại: MS, 1D, 2D-NMR. luan an 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.
GIỚI THIỆU SƠ LƢỢC VỀ CHI DÓ (HELICTERES) Thành phần loài: Chi Dó (Helicteres) là một chi thuộc họ Trôm (Sterculiaceae) bao gồm khoảng 40 loài đƣợc tìm thấy ở các vùng nhiệt đới thuộc châu Á và châu Mỹ. Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ [3], chi Dó (Helicteres) ở Việt Nam bao gồm 9 loài, đó là: Helicteres viscida Bl…(dó trỉn, dó chuột), H. angustifolia glabriuscula Wall (ổ kén không lông), H. plebeja Kurz (dó thƣờng) và dó lông hay An xoa.
Về mặt hình thái: Cây gỗ hay cây bụi, có lông hình sao. Cụm hoa ở nách lá; nhiều hoa. Đài hình ống có 5 răng, thƣờng chia 2 môi. Cánh hoa 5, hình dải thuôn, thẳng hay gấp khúc, thon thành hình móng dài ở nửa dƣới, thƣờng có tai ở trên móng, không giống nhau.
Nhị 10, đính trên một cột hay nhụy dài, chỉ nhị 10, dính nhau nhiều hay ít; bao phấn lắc lƣ, thƣờng ngoại hƣớng, rồi nội hƣớng, 2 ô. Nhị lép 5, ở trong xen kẽ với nhị. Bầu đính ở giữa các nhị; 5 ô; lá noãn 5, phân cách bởi các rãnh quả; noãn nhiều, đảo, xếp thành 2 dãy dọc; vòi thành cột; đầu nhụy không rõ. Qủa nang, có lông, hạt nhiều, hình tháp.
Thành phần hóa học và tác dụng dược lý: Một số loài của chi này đƣợc sử dụng trong y học dân tộc, nhƣ: rễ của loài Helicteres isora đƣợc dùng để trị chứng mƣng mủ, viêm dạ dày, nhiễm trùng ruột, tiểu đƣờng. sacarolha đƣợc dùng để trị bệnh giang mai, và rễ của loài H. hirsuta đƣợc dùng để trị đau dạ con. CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CHI DÓ (HELICTERES) Các nghiên cứu sinh học của một số loài thuộc chi này đã chứng tỏ rằng dịch chiết của loài H.
isora có hoạt tính chống tiểu đƣờng, giảm mỡ máu luan an 4 [4-6]; dịch chiết của H. hirsuta có hoạt tính độc tế bào [7] và dịch chiết của H. gardneriana thể hiện hoạt tính kháng ký sinh trùng gây bệnh sốt rét, leishmania…[8]. Các nghiên cứu về hóa thực vật của các loài Helicteres đã chỉ ra đƣợc việc phân lập các hợp chất: triterpenoid, flavonoid, lignan, neolignan và các dẫn xuất của axit rosmarinic.
Các triterpenoid Từ rễ của loài H. Các nhà khoa học Đài Loan [9] đã tách và định lƣợng bằng phƣơng pháp HPLC ba triterpenoid có khung lupan đó là: 3β-acetoxy-27-benzoyloxylup-20(29)-en-28-oic acid methyl ester (1), 3β- acetoxy-27-benzoyloxylup-20(29)-en-28-oic acid (2) và 3β-acetoxy-27- (p- hydroxyl) benzoyloxylup -20(29)-en-28-oic acid methyl ester (3). Tiếp theo nghiên cứu trên, vào năm 2008, khi nghiên cứu rễ của loài H. angustifolia, nhóm tác giả Min-Hsiung Pan và cộng sự [10] đã công bố các kết quả phân lập, và xác định cấu trúc của 3 triterpen mới đó là 3β-acetoxy- 27-[(E)-cinamoyloxy]lup-20(29)-en-28-oic acid methyl este (4), 3β-acetoxy- 27-[4-hydroxybezoyl)oxy]lup-20(29)-en-28-oic acid (5), 3β-acetoxy-27-[(4- hydroxybezoyl)oxy]olean-12-en-28-oic acid methyl este (6), cùng với 8 triterpen có cấu trúc đã biết là 3β-acetoxy-27-(benzoyloxy)_olean-12-en-28- oic acid methyl este (7), cylicodiscic acid (3β,27-dihydroxylup-20(29)-en-28- oic acid) (8), 3β-O-(trans-coumaroyl)_betulinic acid (9), pyracrenic acid (3β- O-(trans-caffeoyl)_betulinic acid) (10), 3β-O-(trans-feruloyl)betulinic acid (11), 3β-O-(trans-coumaroyl)_betulin (12), 3β-O-(cis-coumaroyl)_betulin (13), 3β-O-(trans-caffeoyl)_betulin (14), và 3β-O-(trans-feruloyl)_betulin (15).
Ngoài ra, một số triterpenoid có khung lupan cũng đƣợc công bố bởi các nhóm tác giả khác nhau khi nghiên cứu loài H. angustifolia nhƣ 3β- acetoxylup-20 (29)-en-28-ol (16) [10], 3β-hydroxylup-20(29)-en-28-oic acid 3-caffeate (17) [12], axit betulinic (18). luan an 5 Hình 1.1: Một số triterpenoid phân lập từ chi Dó Helicteres Ngoài ra, các hợp chất cucurbitacin cũng đƣợc tìm thấy trong một số loài của chi Helicteres. Về mặt hóa học, các cucurbitacin đƣợc xếp vào lớp chất triterpenoid, các cucurbitacin thƣờng có nhiều ở các cây trong họ Cucurbitaceae (họ bầu bí).
Từ rễ của loài H. angustifolia thu hái ở Đài Loan, các nhà khoa học Đài Loan đã phân lập đƣợc 2 cucurbitacin mới là cucurbitacin B2-sunfate (19) và luan an 6 cucurbitacin glucoside (20) cùng với 2 cucurbitacin glucoside đã biết là arvenin I (21) và arvenin III (22) [14]. Một nghiên cứu khác từ rễ của loài H. angustifolia của nhóm tác giả Trung Quốc [15] đã công bố việc phân lập và xác định cấu trúc của cucurbitacin D (23) và cucurbitacin J (24) vào năm 2006, hai chất này có hoạt tính tốt đối với cả hai dòng tế bào ung thƣ: tế bào ung thƣ gan BEL-7402 (với giá trị IC50 của hai chất lần lƣợt là 1,41 và 1,37 µM) và ung thƣ sắc tố da SK- MEL-28 (với IC50 tƣơng ứng là 1,22 và 1,28 µM).
isora, nhóm tác giả Bean, M. F và cộng sự [16] đã phân lập đƣợc cucurbitacin B (25) và isocucurbitacin B (26), đây là hai hợp chất đƣợc phát hiện là có độc tính trên dòng tế bào ung thƣ KB với giá trị ED50= <10-5 µg/ml (cucurbitacin B), và ED50= 7. luan an 7 Hình 1.2: Một số cucurbitacin phân lập từ chi Dó Helicteres Cũng từ rễ của loài H. Các coumarin Từ rễ loài H.
angustifolia, nhóm tác giả Wenliang Chen và cộng sự đã phân lập đƣợc một coumarin mới có tên là 6,7,9α-trihydroxy-3,8,11α- trimethylcyclohexo-[d,e]-coumarin (28) [15]. Cũng từ loài H. angustifolia, Wang và cộng sự [17] đã phân lập ra một hợp chất coumarin mới và đặt tên là heliclacton (29) Hình 1.3: Một số coumarin phân lập từ chi Dó Helicteres Ngoải ra, chi Helicteres còn có chứa các hợp chất khác nhƣ sesquiterpenoid quinon [19, 20], lignan [21], neolignan [22, 23], acid rosmarinic [24] và flavonoid [25,26]. GIỚI THIỆU VỀ CÂY AN XOA HELICTERES HIRSUTA LOUREIRO (STERCULIACEAE) Cây An xoa (hay còn gọi là Dó lông, Tổ kén cái) có tên khoa học là Helicteres hirsuta Loureiro thuộc Họ Trôm Sterculiaceae.
An xoa là cây bụi, cao khoảng 1-3m, nhánh hình trụ, có lông. Lá hình trái xoan, dài 5-17cm, rộng 2,5-7,5cm. Gốc cụt hay hình tim, đầu thon thành mũi nhọn. Mép có răng không đều.
Mặt dƣới màu trắng, cả hai mặt phủ đầy lông hình sao; gân gốc 5, cuống lá dài 0,8-4cm, lá kèm hình dải, có lông, dễ rụng. Cụm hoa là những bông ngắn, đơn hay xếp đôi ở nách lá. Hoa màu hồng hay đỏ, cuống hoa có khớp và có lá bắc dễ rụng, đài hình ống phủ lông hình sao, màu đo đỏ, chia 5 răng. Cánh hoa 5, cuống bộ nhị có vân đỏ, nhị 10, nhị lép bằng chỉ nhị, bầu có nhiều gợn, chứa 25-30 noãn trong mỗi lá noãn.
Quả nang hình trụ nhọn, hạt nhiều, hình lăng trụ. Ra hoa kết quả từ tháng 7 đến tháng 11 [27]. luan an 9 Hình 1.4: Cây An xoa (Helicteres hirsuta Loureiro.) Cây An xoa phân bố ở Nam Trung Quốc và nhiều nƣớc Nam Á nhƣ Ấn Độ, Camphuchia, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Philippine.Ở Việt Nam, cây thƣờng gặp trên các đồi cây bụi, rừng thƣa, ven rừng, phổ biến từ Bắc tới Nam, nhƣ ở Bình Phƣớc, Lâm Đồng và các tỉnh miền núi phía Bắc [28]. Cây An xoa đã đƣợc nhắc đến trong danh mục Thực vật chí ở Việt Nam và trên thế giới, dùng để chữa nhiều bệnh khác nhau nhƣ cảm cúm, sởi, ung nhọt, kiết lỵ, trong đó có tác dụng với các bệnh về gan [29,30].
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Khi nghiên cứu loài An xoa Helicteres hirsuta có nguồn gốc từ Indonexia, nhóm tác giả Young-Won Chin (2006) đã phân lập đƣợc 6 lignan có tên là (±)-pinoresinol (30); (±)-medioresinol (31); (±)- syringaresinol (32); (-)-boehmenan (33); (-)-boehmenan H (34) và (±)-trans-dihydro diconiferyl alcohol (35) [21].