CHƯƠNG 1. Giới thiệu về họ Cà phê (họ Rubiaceae) Trên thế giới, họ Cà phê (Rubiaceae) là một trong năm họ có nhiều loài nhất trong nhóm thực vật có hoa, với khoảng 13. Ở Việt Nam, trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”, Trần Ngọc Ninh (2005) đã công bố về họ Cà phê (Rubiaceae Juss.) cho thấy họ này có 91 chi và 453 loài, phân bố rộng khắp cả nước [13]. Về phân bố và sinh thái, các loài trong họ Cà phê (Rubiaceae) phân bố khắp nơi trên thế giới, kể cả Nam Cực nhưng chủ yếu là vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, một số ít loài ở vùng ôn đới [3][26].
Ở vùng ôn đới, họ Cà phê (Rubiaceae) chỉ có một vài chi thân thảo như Galium và Asperula, chúng có hoa rất nhỏ. Phần lớn các chi thân gỗ phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, tạo nên thành phần quan trọng của các thảm thực vật thân gỗ nhiệt đới, đặc biệt là cây dưới tán rừng [13]. Các cây thuộc họ Cà phê (Rubiceae) thường là loại cây gỗ, cây bụi hoặc nửa bụi, đôi khi là cây thân thảo hay dây leo. Lá mọc đối, luôn có lá kèm với nhiều hình dạng khác nhau.
Hoa thường tập hợp thành cụm hình xim, đôi khi hình đầu, mẫu 5 hoặc 4. Đài và tràng đều hợp, tràng có tiền khai hoa thường vặn. Trong một vài trường hợp số thùy của tràng có thể lên tới 8 – 10. Số nhị thường bằng với số thùy tràng và nằm xen kẽ giữa các thùy, dính vào ống tràng hoặc họng tràng.
Bộ nhụy gồm hai lá noãn dính nhau thành bầu dưới, hai buồng. Một vòi nhụy mảnh, đầu nhụy hình đầu hay chia hai. Mỗi buồng của bầu chứa một đến nhiều noãn đảo hay thẳng. Quả mọng, hạch hay quả khô (quả mở hoặc quả phân thành những hạch nhỏ).
Hạt thường có phôi thẳng có nội nhũ hoặc đôi khi không có [13], [21]. Thực vật họ Cà phê (Rubiaceae) có nhiều ý nghĩa trong thực tiễn như làm thuốc chữa bệnh, lấy gỗ, làm thực phẩm, làm cảnh. Theo bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga đã khảo sát trên 32 loài thuộc họ Cà phê ở vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát thì 24 có loài dùng làm thuốc chữa bệnh, sát trùng vết thương, 3 loài dùng lấy gỗ, 2 loài làm thực phẩm, 3 loài 3 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƯỜNG làm cảnh có hoa rất đẹp.
Trong họ này có 1 chi (Psychotria L.) còn được sử dụng chiết xuất các chất độc dùng để sản xuất thuốc diệt chuột [12]. Găng chụm Bướm bạc cỏ Cẩm chà là Ruột gà dạng húng Hình 1. Một số loài thuộc họ Cà phê (họ Rubiaceae) 1. Giới thiệu về chi Paederia Chi Paederia là một trong những chi thuộc họ Cà phê (Rubiaceae) có mùi mạnh do trong thành phần có chứa chất Methyl Mercaptan.
Ở Việt Nam, có 2 loài là mơ lông (Paederia lanuginose L.) và mơ tròn (Paederia foetida L. 4 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƯỜNG Dựa theo hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan (1987), vị trí của chi Paederia nằm ở [16]: - Giới thực vật (Planta) - Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) - Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) - Phân lớp Hoa Môi ((Lamiidae) - Bộ Cà phê (Rubiales) - Họ Cà Phê (Rubiaceae) - Chi Paederia 1. Giới thiệu về cây mơ lông (Paederia Lanuginosa Wall) Mơ lông còn có tên gọi khác là mơ tam thể, dây mơ tròn, thối địt, ngưu bì đống, dắm chó, co tốt ma (Thái), cẩu xư dằng, my mao [8].
Tên khoa học: Paederia Lanuginosa Wall. Thuộc họ Cà phê. Cây Mơ lông đến độ thu hoạch 5 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƯỜNG 1.
Nguồn gốc - Paederia Lanuginosa được tìm thấy ở phương Đông và Nam Á. Nó là một loài leo thân gỗ nhỏ, nó được tìm thấy trong khu vực từ Ấn Độ, Trung Quốc và quần đảo Philippines. Ở bán đảo Malaysia, nó mọc hoang ở những nơi trống trải, leo trèo trên cây và bụi rậm. Cây ưa ẩm và ánh sáng mặt trời, thích nghi với nhiều loại đất [29].
- Nó còn được tìm thấy ở các phần khác nhau của Bangladesh và cả ở Ấn Độ như Assam, Bihar và Orissa. Đó là một phần khác biệt của ẩm thực Assamese, có vị đắng và mùi hôi [13]. - Ở Việt Nam cây mơ lông được con người phát hiện, tìm thấy rộng rãi từ thời xa xưa và được sử dụng như thực phẩm ăn kèm với thịt, và được dùng để làm các bài thuốc Đông Y chữa một số bệnh như tiêu chảy, đại tràng, sát khuẩn. Phân bố Cây mọc hoang và được trồng ở các nước Bangladesh, miền nam Bhtan, Campuchia, Đài Loan và Trung Quốc (Hồng Kong và Ma Cao), và các tỉnh phía Bắc của Tây Bengal, đảo Andaman và Nicobar, Nhật Bản, Myanmar, Malaysia, Nepal, Philippines, Sigapore, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam [36].
Ở Việt Nam, mơ lông có thể gặp hầu hết ở các tỉnh (trừ vùng núi cao lạnh, trên 1600m), cây mọc hoang hoặc được trồng để làm thuốc và gia vị. Mơ Lông thuộc giống cây khá khỏe, có sức sống mạnh mẽ nên có thể trồng quanh năm nhưng thời điểm tốt nhất để loại cây này phát triển nhanh là vào vụ Đông Xuân. Và thường được trồng ở các bờ rào, bờ ao có lùm bụi cho leo bằng đoạn dây bánh tẻ chỉ dài từ 30-50 cm [41] Cây mơ lông thích hợp cho nhiều loại đất khác nhau, để cây phát triển tốt chỉ cần bón lót với vôi rồi phơi rải từ 15 – 20 ngày trước trồng để xử lý các mầm bệnh có trong đất. Cây ưa sáng và cần có giá để leo cuốn, khả năng đẻ nhánh khá tốt [26].
Mô tả [43] - Dây leo bằng thân quấn, sống nhiều năm. Toàn cây và lá đều có lông mềm và có mùi khó ngửi như cây bọ chó (cẩu xú). - Rễ cây nhỏ và mảnh, thích hợp với nhiều loại đất. 6 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: GS.
ĐÀO HÙNG CƯỜNG - Thân màu xanh lục hoặc màu tím, có nhiều lông cứng màu trắng, tiết diện tròn ở thân già, hơi dẹt ở thân non. - Lá đơn, nguyên, mọc đối, hình trứng; phiến lá hình tim đỉnh nhọn, dài 9 – 11 cm, rộng 4 – 6 cm, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới màu tím, có nhiều lông cứng màu trắng. Gân lá hình lông chim nổi rõ ở mặt dưới, 6 cặp gân phụ đối hoặc gần đối. - Cuống lá hình lòng máng nông, dài 2 – 3 cm, màu xanh, có nhiều lông trắng; 2 lá kèm ở giữa 2 cuống lá, dạng vẩy tam giác hoặc hình tim dài 0.5 cm, màu xanh.
- Cụm hoa xim hai ngả rất phân nhánh ở nách lá hoặc ngọn cành, dài 10 – 50 cm. Hoa nhỏ, đều, lưỡng tính, mẫu 5 rất ít mẫu 6, không cuống, lá bắc hình tam giác nhỏ. - Đài hoa: rời, đều, hình tam giác nhỏ cao 1 mm, màu xanh hơi tím, có lông trắng, tiền khai van. - Tràng hoa: 5 – 6 cánh đều, màu tím mặt ngoài màu trắng xanh ở mặt trong, dính nhau ở 2/3 dưới tạo thành ống tràng dài 0.5 cm, phía trên xòe ra 5 phiến dài 0.2 cm có nhiều gai nạc, mỗi phiến có 3 – 4 thùy cạn không đều và uốn lượn; mặt trong họng tràng có nhiều lông tiết màu tím nhạt, dài 0,2 – 0.3 cm, chân dài đa bào (tế bào to dần về phía đỉnh của lông tiết) đầu đơn bào to tròn dài; mặt ngoài ống tràng có rất nhiều lông màu trắng, 4 – 6 tế bào mọng nước xếp chồng lỏng lẻo.
- Bộ nhị: 5 – 6 nhị đều, rời, đính ở đáy ống tràng xen kẽ cánh hoa. Chỉ nhị dạng sợi mảnh, màu hồng hoặc tím nhạt dài 0.25 cm, nhẵn bóng. Bao phấn: 2 ô, màu trắng, thuôn dài 0.35 cm, nứt dọc, hướng trong, đính lưng. Hạt phấn: rộng 20 – 25 µm, màu trắng, hình bầu dục 2 đầu thuôn tròn, có 3 rãnh dọc, có vân, dài 42.
- Bộ nhuỵ: bầu dưới hình chuông 2 ô, mỗi ô 1 noãn, đính noãn trung trụ; 1 vòi nhuỵ ngắn, màu hồng nhạt; 2 đầu nhuỵ dạng sợi uốn lượn, dài 0.7 cm, màu hồng nhạt, có nhiều lông mịn màu trắng; đĩa mật hình khoen bao quanh gốc vòi nhuỵ. - Quả: hình cầu, có đài màu vàng – nâu bóng. Bộ phận dùng: Lá, thân, rễ [13,4]. 7 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: GS.
ĐÀO HÙNG CƯỜNG Lá mơ lông Cụm hoa Đài hoa Bộ nhị Tràng hoa Bao phấn Bộ nhuỵ Hạt phấn Hình 1. Một số bộ phận của cây Mơ lông 8 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƯỜNG 1. Các bài thuốc kinh nghiệm sử dụng mơ lông Ngày nay việc trồng cây mơ lông càng nhiều phục vụ cho các nhu cầu như thực phẩm, làm cây cảnh.
Bên cạnh đó mơ lông còn thể hiện nhiều đặc tính có giá trị đối với sức khỏe, bao gồm tác dụng chống oxy hóa, sát khuẩn, chữa phong tê, tẩy giun, giải độc và một số bài thuốc chữa lợi tiểu, dạ dày… [9] Theo Y học cổ truyền Việt Nam, lá mơ lông vị chua, tính bình, có công năng trừ phong hoạt huyết, chỉ thống giải độc, tiêu thực đạo trệ, trừ thấp tiêu thũng thường được dùng để chữa các chứng phong thấp (đau khớp), phúc thống (đau bụng), lỵ tật (kiết lỵ), phù thũng, thực tích (đầy bụng, chậm tiêu), cam tích (trẻ em suy dinh dưỡng), can tỳ thũng đại (gan, lách to), trúng độc, thoát giang (sa trực tràng), bối ung (mụn nhọt mọc ở lưng), bạch đới (khí hư) [6,14]. - Trị chứng đau dạ dày: Lấy khoảng 20 – 30 gram lá mơ lông rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt uống một lần trong ngày. Kiên trì dùng sẽ có hiệu quả [37,16]. - Trị chứng tiêu chảy do nóng: Lá mơ 16 gram, nụ sim 8 gram, sắc với 500 mL nước còn 200 mL, chia uống hai lần trong ngày (Theo DS Mỹ Nữ - NN Việt Nam) [37,16].
- Trị chứng kiết lỵ: Nếu bị lỵ mới phát thì lấy một nắm lá mơ, một nắm lá phèn đen rửa sạch, nhúng qua nước sôi, vảy khô, giã nát, vắt lấy nước cốt uống, ngày 2 – 3 lần [37]. Nếu chữa lỵ lâu ngày, lấy một nắm lá mơ tươi lau bằng khăn sạch thái nhỏ, đập một quả trứng gà trộn đều, bọc lá chuối nướng chín, hoặc cho vào chén đưa vào nồi hấp, không cho gia vị. Ăn ngày ba lần, ăn liên tục vài ngày là khỏi [16]. Hoặc lá mơ lông 20 gram, cỏ phượng vĩ 20 gram, hạt cau 25 gram, cỏ sữa lá nhỏ 100 gram, rau sam 100 gram.
Sắc uống ngày một thang, chia ba lần. - Trị chứng bí tiểu tiện: Nếu bị sỏi thận gây bí tiểu thì lấy rau mơ sắc uống ngày vài lần, cho kết quả tốt (Theo DS Mỹ Nữ - NN Việt Nam) [16].