Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Việt Nam sở hữu hệ thực vật nhiệt đới gió mùa phong phú với gần 12.000 loài thực vật bậc cao theo thống kê của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN). Trong đó, Tía tô (Perilla frutescens) thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae) là cây rau gia vị truyền thống quen thuộc và là vị thuốc được ứng dụng lâu đời trong y học cổ truyền để trị cảm mạo, ho, sốt, ngộ độc thực phẩm, đau bụng và tê thấp. Các nghiên cứu hiện đại trên thế giới đã chứng minh tinh dầu và các phân đoạn chiết xuất từ Tía tô có nhiều hoạt tính sinh học giá trị như kháng khuẩn, kháng nấm, chống oxy hóa, kháng viêm, chống dị ứng và ức chế tế bào ung thư. Nhờ đó, loài cây này được khai thác rộng rãi trong công nghiệp chế biến thực phẩm bảo quản, dược phẩm và hóa mỹ phẩm.
Nhằm làm rõ thành phần hóa học cũng như tiềm năng sinh học của nguồn nguyên liệu trong nước, khóa luận tốt nghiệp ngành Công nghệ Sinh học tại Trường Đại học Mở Hà Nội (thực hiện năm 2021) đã triển khai đề tài: "Góp phần nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài Tía Tô Perilla frutescens".
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể được xác định gồm ba nội dung:
- Thu nhận tinh dầu từ lá Tía tô tươi và khô bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước; xác định thành phần các hợp chất có trong tinh dầu bằng phương pháp sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC-MS).
- Tạo các cặn chiết tổng và phân đoạn (etanol, diclometan, etyl axetat) từ mẫu Tía tô; tiến hành sắc ký phân lập cặn chiết etyl axetat và xác định cấu trúc của hợp chất sạch thu được.
- Đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định (nồng độ ức chế tối thiểu - MIC) của các mẫu tinh dầu Tía tô đối với các chủng vi khuẩn, nấm mốc và nấm men chuẩn.
Đối tượng nghiên cứu là thứ Tía tô mép quăn Perilla frutescens var. crispa, thu hái vào tháng 01 năm 2021 tại Hà Nội. Mẫu thực vật đã được giám định tên khoa học bởi TS. Nguyễn Quốc Bình (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam) và mẫu tiêu bản được lưu trữ tại Viện Hóa học các Hợp chất thiên nhiên (INPC) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý thuyết hóa thực vật, chi Perilla gồm 4 loài chính cùng nhiều dạng hóa học (chemotypes). Hai thứ phân loại phổ biến nhất là P. frutescens var. crispa (chứa hàm lượng cao perilla aldehyde tạo mùi thơm, chuyên dùng làm dược liệu, gia vị, cất tinh dầu) và P. frutescens var. frutescens (giàu dầu béo trong hạt, mùi tương tự hạt vừng). Tổng quan tài liệu ghi nhận trong hạt, thân và lá Tía tô đã phát hiện 271 hợp chất, phân tách thành hai nhóm chính: nhóm ưa nước (axit phenolic, flavonoid, anthocyanin) và nhóm kỵ nước/bay hơi (tinh dầu, monoterpene, sesquiterpene, triterpene, phytosterol, axit béo, policosanol, tocopherol).
Khóa luận sử dụng hệ thống các phương pháp thực nghiệm hóa sinh và phân tích hóa học hiện đại:
- Phương pháp thu nhận tinh dầu: Chưng cất lôi cuốn hơi nước trực tiếp từ mẫu lá tươi và lá khô trong thời gian 4 giờ tính từ lúc sôi; tinh dầu sau khi tách được làm khan bằng muối natri sulfat khan ($\text{Na}_2\text{SO}_4$).
- Phương pháp phân tích thành phần bay hơi: Sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) trên hệ thống GC HP 6890 kết hợp detector phổ khối MS HP 5973. Điều kiện chạy mẫu: nhiệt độ đầu $60^\circ\text{C}$, tăng nhiệt độ với tốc độ $5^\circ\text{C}$/phút lên đến $260^\circ\text{C}$, chế độ bơm mẫu dính kim, định tính cấu trúc thông qua thư viện phổ khối MS và xác định tỷ lệ phần trăm theo diện tích pic bán định lượng.
- Phương pháp chiết xuất và phân lập hợp chất: Ngâm chiết kiệt mẫu bột Tía tô khô bằng dung môi etanol $96^\circ$ có hỗ trợ sóng siêu âm, cô quay thu hồi dung môi dưới áp suất giảm được cặn chiết tổng. Tiến hành chiết phân bố lỏng - lỏng phân đoạn lần lượt với n-hexan, diclometan và etyl axetat. Phân lập chất sạch từ cặn etyl axetat bằng kỹ thuật sắc ký cột pha thường (silica gel Merck cỡ hạt 0,063–0,2 mm và 0,040–0,063 mm) kết hợp sắc ký rây phân tử qua gel Sephadex LH-20, theo dõi quá trình phân tách trên bản mỏng tráng sẵn silica gel $60\text{ F}_{254}$ (Merck), soi đèn tử ngoại (UV 254 nm, 366 nm) và hiện màu bằng dung dịch axit sulfuric ($\text{H}_2\text{SO}_4$) 10% có gia nhiệt.
- Phương pháp xác định cấu trúc hóa học: Đo điểm nóng chảy tinh thể trên máy Kofler Micro-Hotstage/BOETIUS; đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D và 2D-NMR ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, DEPT, HSQC, HMBC) trên thiết bị Bruker Avance 500 FT-NMR Spectrometer.
- Phương pháp thử nghiệm hoạt tính sinh học: Đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định bằng phương pháp vi pha loãng trên phiến vi lượng 96 giếng (96-well microtiter plate) theo quy chuẩn của Vander Bergher & Vlietlinck (1991) và McKane & Kandel (1996) để xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC, $\mu\text{g/mL}$). Bộ chủng kiểm định gồm 8 chủng chuẩn (ATCC/VTCC): vi khuẩn Gram âm (Escherichia coli ATCC 25922, Pseudomonas aeruginosa ATCC 10145), vi khuẩn Gram dương (Bacillus subtilis subsp. spizizenii ATCC 6633, Staphylococcus aureus subsp. aureus ATCC 25923), nấm mốc (Aspergillus niger ATCC 6275, Fusarium oxysporum ATCC 7601), nấm men (Candida albicans ATCC 10231, Saccharomyces cerevisiae VTCC-Y-62). Đối chứng dương sử dụng Streptomycin (cho vi khuẩn Gram dương), Tetracyclin (cho vi khuẩn Gram âm), Nystatin/Amphotericin B (cho nấm mốc và nấm men); dung môi hòa tan là DMSO 100%.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các tư liệu nghiên cứu về thực vật học, thành phần hóa học và tác dụng sinh học của Tía tô trên thế giới và tại Việt Nam:
- Phân loại và đặc điểm hình thái: Cây thuộc chi Perilla, thân thảo cao 0,5–1 m, thân vuông có rãnh dọc, lá mọc đối có khía răng cưa, hoa nhỏ màu trắng hoặc tím nở từ tháng 5 đến tháng 8. Giống P. frutescens var. crispa lá tím mép quăn được trồng rất phổ biến ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
- Thành phần hóa học: Tổng hợp 271 hợp chất đã phân lập, trong đó có 39 hợp chất phenolic, flavonoid (apigenin, luteolin, scutellarein) và anthocyanin (malonylshisonin, shisonin); 193 hợp chất bay hơi dễ nhận biết bằng GC-MS; cùng 39 hợp chất triterpene (axit oleanolic, axit ursolic, axit corosolic), phytosterol (campesterol, stigmasterol, $\beta$-sitosterol), axit béo (axit linolenic, linoleic, oleic, palmitic) và policosanol, tocopherol.
- Hoạt tính sinh học: Khả năng chống oxy hóa gắn liền với hàm lượng polyphenol và axit rosmarinic (giá trị $\text{SC}{50} = 5{,}5 \pm 0{,}2,\mu\text{g/mL}$; $\text{IC}{50} = 8{,}61,\mu\text{M}$); hoạt tính ức chế vi khuẩn đường miệng, ức chế S. aureus ($\text{MIC} = 500,\mu\text{g/mL}$) và E. coli ($\text{MIC} = 1250,\mu\text{g/mL}$); tính kháng nấm sợi; tác dụng chống dị ứng thông qua ức chế $\text{anti-DNP IgE}$, giảm biểu hiện $\text{MMP-9}$ và $\text{IL-31}$; hoạt tính kháng viêm qua ức chế $\text{iNOS}$ ($\text{IC}_{50} = 6{,}9,\mu\text{M}$ của luteolin), giảm cytokine $\text{TNF-}\alpha$, $\text{IL-6}$, $\text{NO}$ và ức chế con đường $\text{NF-}\kappa\text{B}$; cùng khả năng ức chế khối u trên mô hình chuột.
- Tình hình nghiên cứu trong nước: Điểm lại các công trình của Đỗ Huy Bích (tinh dầu và tác dụng dược lý), Trần Hữu Anh (tối ưu hóa quy trình cất tinh dầu), Nguyễn Thị Hoàng Lan (khảo sát công nghệ chiết xuất, thử hoạt tính kháng khuẩn và ứng dụng tinh dầu Tía tô bảo quản thịt lợn).
Phần 2: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết đối tượng, hóa chất, chủng vi sinh vật, thiết bị máy móc và quy trình thực nghiệm:
- Xử lý nguyên liệu: 690 g lá Tía tô tươi được chia làm 2 mẻ cất tinh dầu trực tiếp. Phần mẫu khô được diệt men ở $110^\circ\text{C}$ trong 3 phút, sấy ở $45^\circ\text{C}$ đến khô kiệt; 180 g mẫu khô được đem cất tinh dầu, 1,0 kg mẫu khô còn lại đem nghiền mịn thu 0,9 kg bột phục vụ chiết phân đoạn.
- Quy trình chiết xuất và phân lập cặn chiết etyl axetat: Cặn etyl axetat (khối lượng 4,8669 g) được tẩm đều lên silica gel pha thường và nạp lên cột sắc ký silica gel, rửa giải bằng gradient hệ dung môi diclometan:metanol ($10:1 \rightarrow 5:1 \rightarrow 1:1$, v/v), thu được 3 phân đoạn $\text{ETT1}$, $\text{ETT2}$, $\text{ETT3}$. Phân đoạn $\text{ETT1}$ xuất hiện cặn hạt màu vàng ($\text{T1A}$); cặn này được hòa tan trong metanol và đưa lên cột rây phân tử Sephadex LH-20 (rửa giải bằng metanol tuyệt đối), thu 153 phân đoạn nhỏ. Gộp các phân đoạn từ bình 125 đến 149 (cho kết tinh dạng kim màu ngà) thành phân đoạn $\text{T1A1}$. Lặp lại quy trình sắc ký thu được hợp chất sạch ký hiệu $\text{T1A1}$ (cho một vết đơn nhất trên bản mỏng TLC với hệ diclometan/metanol/etyl axetat $6:1:1$, v/v/v; hệ số $R_f = 0{,}366$).
- Thực nghiệm vi sinh học: Hoạt hóa chủng vi sinh vật, điều chỉnh nồng độ về độ đục McFarland 0,5, ủ phiến vi lượng 96 giếng ở $37^\circ\text{C}$ trong 24 giờ đối với vi khuẩn và $30^\circ\text{C}$ trong 48 giờ đối với nấm mốc, nấm men để xác định giá trị MIC.
Phần 3: Kết quả và thảo luận
Chương này trình bày dữ liệu định lượng và thảo luận sâu về ba nội dung thực nghiệm:
- Hiệu suất thu nhận tinh dầu: Từ 690 g lá Tía tô tươi thu được 4,48 g tinh dầu màu vàng, mùi hăng mạnh (đạt hiệu suất trung bình 0,71%). Từ 180 g lá Tía tô khô thu được 1,15 g tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm dịu hơn (đạt hiệu suất 0,64%). Sự suy giảm hàm lượng tinh dầu ở mẫu khô được giải thích do sự bay hơi thất thoát một phần trong quá trình phơi sấy.
- Thành phần hóa học tinh dầu qua GC-MS:
- Tinh dầu khô ($\text{TT1}$): Nhận diện được 21 hợp chất, chiếm 99,65% tổng hàm lượng. Cấu phần áp đảo là myristicine (52,77%), tiếp đến là $\beta$-caryophyllene (16,48%), perilla aldehyde (10,55%), elemicine (8,57%), $\alpha$-zingiberene (2,93%), $\alpha$-humulene (1,68%), germacrene D (1,23%) và limonene (1,02%).
- Tinh dầu tươi ($\text{TT2}$): Nhận diện được 31/32 pic hợp chất, chiếm 96,07% tổng hàm lượng. Thành phần chính gồm perilla aldehyde chiếm tỷ lệ cao nhất (27,06%), $\beta$-caryophyllene (15,44%), myristicine (9,44%), caryophyllene oxide (7,50%), phytol (5,93%), $\alpha$-zingiberene (5,20%), trans-shisool (3,15%), $\alpha$-humulene (2,94%), germacrene D (2,83%) và spathulenol (2,28%).
- Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định: Thể hiện qua giá trị MIC cụ thể, cho thấy tinh dầu Tía tô có hoạt tính kháng nấm mốc, nấm men và vi khuẩn Gram âm.
- Phân lập và xác định cấu trúc: Phân lập thành công chất sạch $\text{T1A1}$ từ cặn etyl axetat dưới dạng tinh thể hình kim, nhiệt độ nóng chảy $143–145^\circ\text{C}$. Phổ $^1\text{H-NMR}$ cung cấp bằng chứng rõ ràng về 2 nhóm thế methoxy ($-\text{OCH}_3$) tại $\delta_H\ 3{,}97\text{ ppm}$ ($3\text{H, s}$) và $\delta_H\ 3{,}94\text{ ppm}$ ($3\text{H, s}$); 2 proton vòng thơm tương tác ortho ghép đôi với hằng số tương tác lớn $J = 9{,}5\text{ Hz}$ ở $\delta_H\ 6{,}29\text{ ppm}$ ($1\text{H, d}$) và $\delta_H\ 7{,}59\text{ ppm}$ ($1\text{H, d}$); cùng 2 proton thơm đơn lẻ khác ở $\delta_H\ 6{,}85\text{ ppm}$ ($1\text{H, s}$) và $\delta_H\ 6{,}84\text{ ppm}$ ($1\text{H, s}$).
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng chính
Khóa luận đã thu thập đầy đủ số liệu thực nghiệm gốc về hiệu suất chiết, thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của Tía tô:
| Chỉ tiêu / Thành phần | Mẫu tinh dầu khô ($\text{TT1}$) | Mẫu tinh dầu tươi ($\text{TT2}$) |
|---|---|---|
| Khối lượng mẫu nạp (g) | 180 | 690 (chia 2 mẻ) |
| Khối lượng tinh dầu thu được (g) | 1,15 | 4,48 |
| Hiệu suất chưng cất (%) | 0,64 | 0,71 |
| Tổng số hợp chất nhận danh | 21 (chiếm 99,65%) | 31/32 (chiếm 96,07%) |
| Perilla aldehyde (%) | 10,55 | 27,06 |
| Myristicine (%) | 52,77 | 9,44 |
| $\beta$-Caryophyllene (%) | 16,48 | 15,44 |
| Caryophyllene oxide (%) | 0,87 | 7,50 |
| Elemicine (%) | 8,57 | 1,29 |
| Phytol (%) | Không phát hiện | 5,93 |
| trans-Shisool (%) | 0,98 | 3,15 |
| $\alpha$-Zingiberene (%) | 2,93 | 5,20 |
Bảng kết quả thử nghiệm hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định (giá trị $\text{MIC}$ tính bằng $\mu\text{g/mL}$):
| Nhóm vi sinh vật | Chủng kiểm định | Mẫu $\text{TT1}$ (khô) | Mẫu $\text{TT2}$ (tươi) |
|---|---|---|---|
| Vi khuẩn Gram (-) | Escherichia coli | (-) | (-) |
| Pseudomonas aeruginosa | (-) | 400 | |
| Vi khuẩn Gram (+) | Bacillus subtilis | (-) | (-) |
| Staphylococcus aureus | (-) | (-) | |
| Nấm mốc | Aspergillus niger | 200 | 400 |
| Fusarium oxysporum | (-) | 400 | |
| Nấm men | Candida albicans | (-) | (-) |
| Saccharomyces cerevisiae | 400 | 400 |
Ghi chú: Dấu (-) biểu thị mẫu không thể hiện hoạt tính ức chế ở dải nồng độ thử nghiệm.
Giải pháp và ứng dụng đề xuất
- Bảo quản thực phẩm: Sử dụng tinh dầu Tía tô (đặc biệt là tinh dầu tươi giàu perilla aldehyde và caryophyllene oxide) làm phụ gia tự nhiên an toàn nhằm ức chế nấm mốc (A. niger, F. oxysporum) và vi khuẩn gây hư hỏng thực phẩm trên thịt, cá.
- Hóa mỹ phẩm và chăm sóc sức khỏe: Khai thác tinh dầu trong công thức xà phòng kháng khuẩn, kem trị mụn, sữa dưỡng thể, muối tắm hoặc liệu pháp xông hơi, massage giảm stress thần kinh nhờ tác động phối hợp của caryophyllene và perilla aldehyde.
Đóng góp học thuật
Đề tài cung cấp dữ liệu thực nghiệm so sánh định lượng chi tiết giữa tinh dầu lá Tía tô tươi và khô trồng tại Hà Nội, chỉ ra sự biến động tỷ lệ hợp chất then chốt (myristicine tăng cao trong mẫu khô đạt 52,77%, trong khi perilla aldehyde chiếm ưu thế ở mẫu tươi đạt 27,06%). Đồng thời, nghiên cứu đã xây dựng quy trình phân lập chiết tách thành công hợp chất tinh khiết $\text{T1A1}$ từ phân đoạn etyl axetat bằng sắc ký cột kết hợp Silica gel và Sephadex LH-20.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận: Đối tượng nghiên cứu mới chỉ khảo sát trên một quần thể mẫu thu hái tại một thời điểm (tháng 01/2021 tại Hà Nội); việc phân lập hợp chất mới tập trung trên phân đoạn cặn etyl axetat ($\text{T1A1}$) mà chưa triển khai phân lập trên các phân đoạn cặn n-hexan và diclometan; chưa tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học trực tiếp trên hợp chất sạch $\text{T1A1}$ sau khi phân lập.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Khai thác phối hợp các phổ $^{13}\text{C-NMR}$, DEPT, HSQC, HMBC và phổ khối phân giải cao (HR-MS) để xác định trọn vẹn danh pháp hóa học và công thức cấu tạo của chất $\text{T1A1}$.
- Mở rộng phân lập các hợp chất thứ sinh khác từ các phân đoạn chiết n-hexan và diclometan.
- Khảo sát thêm các hoạt tính sinh học in vitro khác như quét gốc tự do (DPPH), chống viêm (ức chế NO, cytokine) và thử độc tính tế bào ung thư của các hợp chất phân lập được.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực đối với:
- Sinh viên, học viên ngành Công nghệ Sinh học, Hóa học các hợp chất thiên nhiên và Dược học: Cung cấp tài liệu tham khảo rõ ràng về phương pháp luận chiết xuất tinh dầu, kỹ thuật chạy sắc ký cột kết hợp giữa Silica gel pha thường và Sephadex LH-20, quy trình đọc và phân tích phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1\text{H-NMR}$).
- Cán bộ nghiên cứu lĩnh vực Công nghệ Thực phẩm và Mỹ phẩm: Tham khảo dữ liệu thực nghiệm về thành phần GC-MS và ngưỡng nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) kháng nấm mốc, nấm men để phát triển các chất bảo quản tự nhiên hoặc sản phẩm kháng khuẩn tự nhiên.
Câu hỏi thường gặp
1. Hiệu suất thu nhận và đặc tính cảm quan của tinh dầu Tía tô tươi và khô khác nhau như thế nào?
Chưng cất lôi cuốn hơi nước từ lá Tía tô tươi cho hiệu suất trung bình 0,71% với màu vàng và mùi hăng đặc trưng; trong khi mẫu lá khô cho hiệu suất 0,64% với màu vàng nhạt và mùi thơm nhẹ hơn. Sự hao hụt hiệu suất ở mẫu khô là do một phần các hợp chất bay hơi bị thất thoát trong quá trình phơi và sấy ở $45^\circ\text{C}$.
2. Thành phần hóa học chính trong tinh dầu Tía tô tươi và khô có sự chuyển dịch ra sao theo dữ liệu GC-MS?
Trong tinh dầu tươi ($\text{TT2}$), hợp chất chiếm tỷ lệ cao nhất là perilla aldehyde (27,06%), theo sau là $\beta$-caryophyllene (15,44%), myristicine (9,44%), caryophyllene oxide (7,50%) và phytol (5,93%). Ngược lại, trong tinh dầu khô ($\text{TT1}$), myristicine tăng vọt lên mức chiếm tỷ lệ cao nhất (52,77%), tiếp theo là $\beta$-caryophyllene (16,48%), perilla aldehyde giảm xuống còn 10,55% và elemicine chiếm 8,57%.
3. Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của tinh dầu Tía tô thể hiện trên những chủng nào?
Tinh dầu khô ($\text{TT1}$) ức chế chọn lọc nấm mốc Aspergillus niger ở $\text{MIC} = 200,\mu\text{g/mL}$ và nấm men Saccharomyces cerevisiae ở $\text{MIC} = 400,\mu\text{g/mL}$. Tinh dầu tươi ($\text{TT2}$) thể hiện phổ kháng rộng hơn khi ức chế vi khuẩn Gram âm Pseudomonas aeruginosa, hai chủng nấm mốc Aspergillus niger, Fusarium oxysporum và nấm men Saccharomyces cerevisiae cùng ở nồng độ $\text{MIC} = 400,\mu\text{g/mL}$.
4. Hợp chất sạch $\text{T1A1}$ được phân lập qua những bước nào và có đặc trưng phổ $^1\text{H-NMR}$ ra sao?
Chất $\text{T1A1}$ được tách từ 4,8669 g cặn etyl axetat qua sắc ký cột silica gel (hệ diclometan:metanol) để lấy phân đoạn cặn $\text{T1A}$, sau đó tinh chế qua cột Sephadex LH-20 (rửa giải metanol), thu tinh thể hình kim màu ngà tại các phân đoạn 125–149 ($R_f = 0{,}366$; điểm nóng chảy $143–145^\circ\text{C}$). Phổ $^1\text{H-NMR}$ ghi nhận 2 nhóm methoxy tại $\delta_H\ 3{,}97$ và $3{,}94\text{ ppm}$ ($3\text{H, s}$), 2 proton vòng thơm ghép ortho có hằng số ghép $J = 9{,}5\text{ Hz}$ tại $\delta_H\ 6{,}29$ và $7{,}59\text{ ppm}$ ($1\text{H, d}$), cùng 2 proton thơm đơn độc tại $\delta_H\ 6{,}85$ và $6{,}84\text{ ppm}$ ($1\text{H, s}$).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thùy Linh đã nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống về hiệu suất chưng cất, thành phần hóa học bay hơi (GC-MS) và hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu lá Tía tô (Perilla frutescens var. crispa) ở hai trạng thái tươi và khô. Đề tài đã phân tích và định danh 21 hợp chất trong tinh dầu khô (nổi bật với myristicine 52,77%) và 31 hợp chất trong tinh dầu tươi (chủ yếu là perilla aldehyde 27,06%), đồng thời chứng minh hoạt tính ức chế rõ rệt trên các chủng P. aeruginosa, A. niger, F. oxysporum và S. cerevisiae. Ngoài ra, nghiên cứu đã phân lập thành công một hợp chất sạch dạng tinh thể ($\text{T1A1}$) từ phân đoạn cặn etyl axetat và bước đầu xác lập các thông số phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton quan trọng.