CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về chi Camellia L 1.1 Phân loại khoa học Chi Camellia L. thuộc họ chè (Theaceae), là một trong những loài thực vật truyền thống và nổi tiếng nhất ở châu Á [1], đặc biệt là ở Trung Quốc và Nhật Bản. Trên thế giới có khoảng gần 500 loài thuộc 18 chi khác nhau, trong đó chi trà Camellia L. Ở Việt Nam, trà Camellia L.
trồng và mọc hoang ngoài tự nhiên trải dài từ Bắc vào Nam với khoảng 58 loài được ghi nhận. Một số loài thuộc chi Camellia L. có giá trị kinh tế cao do phụ phẩm của chúng như trà [2]. Sự phong phú và giá trị kinh tế mang lại đã thúc đẩy sự quan tâm đến các đặc tính sinh học của chi thực vật này và một số nghiên cứu đã được thực hiện để khảo sát thành phần hóa học và các hoạt tính sinh học của nó.
Ở nước ta, VQG Bù Gia Mập được coi là địa hình khu vực đại diện duy nhất cho vùng khí hậu chuyển tiếp từ cao nguyên xuống Đông Nam bộ mà không nơi nào có được, do vậy hệ thực vật nói chung và chi Camellia L. nói riêng ở đây cũng có nhiều loài rất đặc thù, chúng có giá trị khoa học riêng biệt, mang tính bảo tồn và kinh tế cao. Ở Việt Nam, chi Camellia có 58 loài được ghi nhận [9], chúng được phân bố trong các khu rừng lá rộng thường xanh tự nhiên [11]. Ba loài này được tìm thấy trong khu rừng nhiệt đới đất thấp, gần nguồn nước.
Ba loài mới này ưa sống trong rừng kín mưa ẩm nhiệt đới, đất thấp liền kề hệ thống sông suối.1 Một số loài trà thuộc chi trà Camellia ở Việt Nam STT Tên khoa học Phân bố TLTK C.) Cohen 1 VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc [9] Stuart 2 C. bugiamapensis Orel, Curry, Luu & VQG Bù Gia Mập, Bình 3 [40] Q.D Phước 2 VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc; Ấn Độ, 4 C. caudate Wallich [9] Myanmar; Bhutan; Trung Quốc 5 C. capitata Orel VQG Cát Tiên, Lâm Đồng [12] 6 C.
cattienensis Orel VQG Cát Tiên, Lâm Đồng [45] 7 C. crassiphylla Ninh & Hakoda Tam Đảo, Vĩnh Phúc [9] 8 C. cucphuongensis Ninh & Rosmann VQG Cúc Phương, Ninh Bình [42] Quảng Ninh; Quế Phong, Nghệ An;Tam Đảo, Vĩnh 9 C. chrysantha (Hu) Tuyama Phúc; Ninh Bình;Đà Lạt; [9] Tuyên Quang; Ba Vì, Hà Nội; Vĩnh Cửu, Đồng Nai.Luong, Ninh & [43] 10 Đà Lạt, Lâm Đồng Hakoda 11 C.
dilinhensis Tran & Luong Di Linh, Lâm Đồng [40] Hồi Xuân, Thanh Hóa; Nghệ An;Quảng Trị; Lâm Đồng; 12 C. dormoyana (Pierre) Sealy [40] Tây Ninh;Biên Hòa, Đồng Nai, Phú Quốc,Kiên Giang. dongnaiensis Orel Đồng Nai [40] Sơn Động, Bắc Giang; Ba Chẽ, 14 C.ex Sealy [40] Quảng Ninh; Lạng Sơn VQG Cúc Phương, Ninh Bình; 15 C. flava (Pitard) Sealy [40] Hòa Bình; Nghệ An Diên Khánh, Khánh Hòa; Vĩnh 16 C.Chev) Sealy [40] Phúc VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc; 17 C.) Cohen Stuar [9] Yên Tử, Quảng Ninh; Ba Vì, 3 Hà Tây;Quảng Trị, Đà Nẵng; Bình Định;Kon Tum; Gia Lai; Lâm Đồng;Trung Quốc; Lào 18 C.Chev) Sealy Tam Đảo, Vĩnh Phúc [9] 19 C.T Tam Đảo, Vĩnh Phúc [9] 20 C.Sealy Hàm Yên, Tuyên Quang [40] C.
hatinhensis Luong, Tran &L. 21 Vũ Quang, Hà Tĩnh [44] Nguyen 22 C. Ninh Tam Đảo, Vĩnh Phúc [9] C. luteopallida Luong, 23 Lạng Sơn [41] T.
oconoriana Orel, Curry & Luu Lâm Đồng [46] Thái Nguyên; Phú Thọ; Lâm 25 C. Mô tả thực vật của chi Camellia L., một chi gồm cây bụi và cây gỗ, là chi lớn nhất và có giá trị về mặt kinh tế, xã hội và sinh thái trong họ Theaceae [1]. thuộc nhóm cây bụi hoặc cây nhỏ, thường xanh, cành nhẵn hoặc có lông. Lá thường có cuống; đơn mọc cách, kích thước lá thay đổi, có thể dài từ vài cm đến 45 cm; chất lá chủ yếu là dạng da, có độ dày mỏng khác nhau; chóp lá nhọn, có đầu nhọn hoặc kéo dài thành đuôi; gốc lá hình nêm hẹp, nêm rộng, tròn hay hình tim; mép lá có răng cưa nhọn hoặc tù [9].
4 A: Chóp lá nhọn; B: Chóp lá có mũi nhọn; C: Chóp lá có đuôi Hình 1.1 Hình dạng chóp lá A: Gốc lá hình nêm; B: Gốc lá tròn; C: Gốc lá hình tim có tai Hình 1.2 Hình dạng gốc lá Hoa đều, lưỡng tính, kích thước lớn hoặc nhỏ, mọc đơn hoặc mọc tập trung 2-5 hoa ở nách lá hay đỉnh cành. Hoa có màu đỏ, trắng hoặc vàng; cuống hoa ngắn hoặc gần như không. Lá bắc từ 2-10, mọc xoắn trên cuống hoa, lá đài 5-5 phiến, cả lá bắc và lá đài có thể tồn tại hoặc rụng sớm. Cách hoa từ 4-19, hợp một phần ở gốc cùng với vòng nhị ngoài; nhị nhiều, những nhị ngoài thường dính nhau thành cái chén hay ống ở phía gốc, vòng nhị phía trong rời nhau, chỉ nhị dài.
Bầu trên, có 1-5 ô, vòi nhụy 1-5 vòi dạng sợi rời hoặc dính nhau tùy theo mức độ; bàu và vòi nhụy nhẵn hoặc phủ lông mịn [9]. Quả nang hình cầu, hình cầu dẹt hay hình trứng, khi khô, chẻ ô từ trên xuống thành 3-5 mảnh; có thể có hoặc không có trụ quả. Hạt thường có từ một đến nhiều hạt trong mỗi ô, có dạng hình cầu, nửa cầu hay hình nêm; vỏ hạt màu nâu, nâu hạt giẻ nhạt hoặc nâu hồng; hạt nhẵn hoặc phủ lông [9]. hakodae có hình cầu dẹt; B: C.
petelotii khi mở để lộ trụ quả; C: C.3 Quả hình cầu 5 A: Hình cầu; B: Hình bán nguyệt; C: Hình nêm Hình 1.4 Hình dạng hạt 1. Một số loài thuộc chi Camellia L phân bố tại vườn quốc gia Bù Gia Mập 1.1 Camellia longii Camellia longii có tên khoa học đầy đủ là Camellia longii Orel & Luu sp., thuộc chi Camellia L.Camellia longii được biết đến đầu tiên với vị trí phân bố nằm trong biên giới phía bắc thuộc vườn quốc gia Cát Tiên (Cát Lộc), tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam. Đây là một loài mới được tìm thấy trong khu vực gần với thôn 4, xã Phước Cát 2, nằm rải rác trong khu rừng thường xanh, phát triển mạnh trong đất tương đối giàu dinh dưỡng, ẩm ướt và trong điều kiện ánh sáng yếu. Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học Miền Nam, là người đầu tiên có công phát hiện ra Camellia longii- 1 loại hoa trà trông rất khác lạ, đang nở hoa rất đẹp trong rừng sâu.
Lúc đầu nhìn hình thái của hoa bên ngoài trông rất giống với loài C. Ngay sau đó những mẫu thu được đã được TS Lưu Hồng Trường phân tích giải phẫu so sánh. Trường khẳnh định đây là một loài thực vật mới khác hẳn với loài C. piquetiana và đã mô tả đặt tên mới là Camellia longii.
Mô tả hình thái: là cây gỗ nhỡ lâu năm, cao 2. Lá dài 27-31 cm, rộng 6-9 (10.5) cm; phiến lá mỏng, hơi dai, biến đổi, hình elip hẹp đến hình thuôn hẹp. Cuống hoa dài tới 2 cm, rộng 4-5(6) mm. Hoa cô độc, hình elip không đều cho tới hình trứng, không mùi, dài 4.5 (6) cm, đường kính 3.
Nhị hoa nhiều.5 Cây Camellia longii ngoài tự nhiên vùng rừng Cát Lộc Bảng 1.2 Phân loại khoa học của loài Camellia longii Hệ thống phân loại (Taxonomy) Giới Theaceae Plantae Họ Ngành Camellia Tracheophyta Chi Lớp Camellia longii Magnoliopsida Loài Bộ Theales Camellia longii Orel & Luu sp. Tên khoa học Chưa có Tên Tiếng Việt 1. Camellia bugiamapensis: Trà hoa vàng Bù Gia Mập có tên khoa học là Camellia bugiamapensis Orel & Luu sp., thuộc chi Camellia L., loài trà hoa vàng đặc hữu của Vườn quốc gia Bù Gia Mập, 7 được công bố vào năm 2014. Theo công bố của các nhà khoa học trong Sách đỏ thế giới (IUCN Red List, 2018), đây là loài chỉ ghi nhận duy nhất ở một phạm vi nhỏ hẹp (1km2) tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, nằm trong khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia.
Số lượng cây trưởng thành vô cùng ít (ước lượng khoảng từ 49-70 cây) và được xếp bảo tồn vào bậc CR (cực kỳ nguy cấp), vậy nên, ta đưa ra những giải pháp để nhân giống và bảo tồn loài cây này. Đặc biệt, loài C.bugiamapensis ngoài giá trị bảo tồn nguồn gen, các nhà khoa học còn đánh giá là loài có giá trị dược liệu tương tự loài trà hoa vàng C.chrysantha đã được công nhận trên toàn thế giới [54] Hình 1.6 Cây trà hoa vàng C.bugiamapensis ở VQG Bù Gia Mập Vị trí của loài C.bugiamapensis trong hệ thống phân loại thực vật theo bảng 1.3 Phân loại khoa học của loài C.bugiamapensis Hệ thống phân loại (Taxonomy) Giới Theaceae Plantae Họ Ngành Camellia Tracheophyta Chi Lớp Camellia bugiamapensis Magnoliopsida Loài Bộ Theales Camellia bugiamapensis Orel & Luu sp. Tên khoa học 8 Tên Tiếng Việt Trà hoa vàng Bù Gia Mập 1. Tên thường gọi là trà hoa trắng, đây là một loài trà mới được tìm thấy tại VQG Bù Gia Mập và hiện nay tên khoa học của loài chưa được thống nhất, bên cạnh đó cũng chưa có nghiên cứu liên quan đến loài thực vật này.
Khi gặp một loài mới, người ta thường viết tắt tên loài bằng chữ viết tắt sp. Nếu có nhiều loài thuộc về cùng một chi nhưng không chỉ rõ loài nào, người ta có thể viết tắt thành spp., có nghĩa species plurima (nhiều loài), hoặc sp.4: Phân loại khoa học của loài Camellia Sp. Hệ thống phân loại (Taxonomy) Giới Plantae Họ Theaceae Ngành Tracheophyta Chi Camellia Lớp Magnoliopsida Loài Camellia sp. Bộ Theales Camellia sp.
Tên khoa học Tên Tiếng Việt Trà hoa trắng Bù Gia Mập 9 Hình 1.7 Cây trà hoa trắng Camellia sp. – Vườn quốc gia Bù Gia Mập 1.2 Các nghiên cứu về những loài thực vật trong chi Camellia L Theo bài nghiên cứu: “A Comparative Analysis of Chemical Compositions in Camellia sinensis var. puanensis Kurihara, a Novel Chinese Tea, by HPLC and UFLC-Q-TOF-MS/MS”.Trà là loại đồ uống phổ biến và được tiêu thụ rộng rãi nhất và đã trở thành một trong ba loại đồ uống không cồn lớn trên thế giới. Uống trà được cho là ngăn ngừa một số bệnh, chẳng hạn như bệnh tim mạch, ung thư, trầm cảm và giúp giảm trọng lượng cơ thể.
Các chế phẩm hóa học khác nhau, chủ yếu bị ảnh hưởng bởi khí hậu, môi trường và xử lý quá trình, xác định các tính năng của các loại trà khác nhau. Camellia sinensis var. puanensis Kurihara (trà puan) là một cây trà cổ thụ mới được tìm thấy ở Jiangxipo và các khu vực xung quanh của hạt Puan, tỉnh Guizhou, Trung Quốc. Nó đã trở thành một loại trà uống quan trọng và phổ biến tại các nhà hàng địa phương có lịch sử lâu đời.
Người dân ở đó luôn tin rằng việc hấp thụ nó có lợi cho việc tăng cường sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật. Tuy nhiên, do sự phân bố hẹp và đặc biệt của nó, vẫn còn ít nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của nó bao gồm tổng hợp hóa học và thành phần hóa học.